Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/HNGĐ-ST
Ngày: 27 tháng 3 năm 2025
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Mạnh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Hà Thị Dung.
Ông Đinh Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TB-TLVA ngày 08 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Q, sinh năm 1987; Nơi thường trú: xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Vũ Quốc H, sinh năm 1979; Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

    Hiện đang ở Nhật Bản. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Dương Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào ngày 14/9/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc tại xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Đến năm 2018, anh H đi lao động tại Nhật Bản tuy nhiên hiện tại anh H sinh sống ở thành phố nào chị không nắm được vì anh H đã thay đổi chỗ ở nhiều lần. Sau khi anh H sang N chị phát hiện anh H có quan hệ với những người phụ nữ khác. Anh H đã xin lỗi và hứa thay đổi. Tuy nhiên anh H không thay đổi, đến nay anh H và chị vẫn không có tiếng nói chung, mâu thuẫn không thể hàn gắn. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh H, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Vũ Viết Tuấn A, sinh ngày 01/4/2013 và Vũ Lam P, sinh ngày 16/10/2016. Hiện nay các con đang ở với chị. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị đề nghị tự thỏa thuận với anh H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 22/01/2025 tại Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, ông Vũ Viết Đ, sinh năm 1947, địa chỉ: Thôn P (trước là xóm I), xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, là bố đẻ của anh Vũ Quốc H, sinh năm 1979, có địa chỉ thường trú trước khi xuất cảnh ở xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Ông Đ vẫn thường liên hệ với anh H qua mạng xã hội Facebook, ông đã thông báo cho anh H biết việc chị Q xin ly hôn với anh H, anh H biết việc chị Q xin ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn với chị Q do anh đang ở nước ngoài, khi nào anh trở về nước sẽ trực tiếp giải quyết việc ly hôn với chị Q.

Về con chung, anh xác định anh chị có 02 con chung là Vũ Viết Tuấn A, sinh ngày 01/4/2013 và Vũ Lam P, sinh ngày 16/10/2016, hiện nay hai cháu do chị Q nuôi dưỡng, hàng tháng anh gửi 03 (ba) triệu đồng/02 con để cấp dưỡng nuôi các con. Do anh không đồng ý ly hôn nên không đề cập đến việc giải quyết phần nuôi con chung khi ly hôn và cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Anh H xác định anh chị có 01 mảnh đất với diện tích khoảng 150m² và 01 ngôi nhà hai tầng xây dựng trên đất tại xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Anh đề nghị khi nào anh về nước sẽ giải quyết phần tài sản chung và việc ly hôn giữa anh và chị Q

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng:

  • Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: Tiếp nhận đơn, thông báo nộp tạm ứng án phí, thông báo thụ lý vụ án và tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
  • Quan điểm giải quyết vụ án:
    • + Đủ điều kiện đưa ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự sơ thẩm.
    • + Đề xuất: Căn cứ các Điều 28, 37, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Q, cho chị Q được ly hôn với anh Vũ Quốc H.

Về con chung: Giao con chung là Vũ Viết Tuấn A, sinh ngày 01/4/2013 và Vũ Lam P, sinh ngày 16/10/2016 cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh H do chị Q không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung hai bên tự thỏa thuận nên không giải quyết. Chị Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.] Chị Dương Thị Q, sinh năm 1987 và anh Vũ Quốc H, sinh năm 1979, có nơi thường trú ở Xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Theo công văn số 5143/PQLNXC(Đ1) ngày 16/12/2024 của Phòng Q1 Công an tỉnh T xác định: “Anh Vũ Quốc H đã được cấp hộ chiếu, xuất cảnh gần nhất ngày 19/02/2024 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.” Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

[2.]. Nguyên đơn chị Dương Thị Q chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của anh H ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của anh H ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ở nước ngoài, không đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để tham gia tố tụng, căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được.

[3.]. Anh H không có văn bản thể hiện quan điểm của mình gửi về cho Toà án, nhưng thông qua đại diện thân nhân của anh H là ông Vũ Viết Đ, có đủ căn cứ xác định anh H vẫn liên hệ với ông bà nhưng ông bà không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H tại Nhật Bản cho Tòa án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao, về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn anh Vũ Quốc H.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Q:

[4.]. Hôn nhân giữa chị Dương Thị Q và anh Vũ Quốc H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc tại xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Đến năm 2018, anh H đi lao động tại Nhật Bản. Sau đó chị phát hiện anh H có quan hệ với những người phụ nữ khác. Anh H đã xin lỗi và hứa thay đổi. Tuy nhiên đến nay anh H và chị vẫn không có tiếng nói chung, mâu thuẫn không thể hàn gắn. Chị Q xin ly hôn, anh H không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy, chị Q và anh H đã sống xa cách nhau một thời gian, giữa hai vợ chồng đã có mâu thuẫn, chị Q xác định không còn tình cảm với anh H, khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không bên nào có ý định hàn gắn, mà mỗi bên tự lo cuộc sống riêng, không còn sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q, cho chị Q được ly hôn với anh H là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[6.]. Về con chung: Chị Dương Thị Q và anh Vũ Quốc H có 02 con chung là Vũ Viết Tuấn A, sinh ngày 01/4/2013 và Vũ Lam P, sinh ngày 16/10/2016. Khi ly hôn chị Q có nguyện vọng được nuôi 02 con chung

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Tuấn A và cháu P đều đang ở cùng chị Q, các cháu đều có văn bản đề nghị được ở với chị Q khi bố mẹ ly hôn, chị Q hiện ở Việt Nam còn anh H đang ở Nhật Bản. Khi cha mẹ ly hôn, cần giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, mới đảm bảo lợi ích của các cháu.

Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung khi cha mẹ ly hôn, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Hội đồng xét xử giao cả hai con chung là Vũ Viết Tuấn A và Vũ Lam P cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị Q không yêu cầu.

Các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và được giải quyết bằng vụ kiện khác.

[7.]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thị Q và anh Vũ Quốc H không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.

[8.]. Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được chuyển từ dự phí đã nộp sang.

[9.]. Về quan điểm giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị Q đối với anh Vũ Quốc H.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Q ly hôn anh Vũ Quốc H.
  2. Về con chung: Giao cho chị Dương Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Vũ Viết Tuấn A, sinh ngày 01/4/2013 và Vũ Lam P, sinh ngày 16/10/2016 đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh H có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị Q không yêu cầu.
  4. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Án phí: Chị Dương Thị Q phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000241 ngày 07/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Chị Dương Thị Q được quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án và anh Vũ Quốc H được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND xã T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Mạnh Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 22/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger