|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/KDTM - ST Ngày 19-6-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện
Hội thẩm nhân dân: Ông Khuông Văn Thông, ông Nguyễn Văn Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Anh –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 110/2024/TLST-KDTM ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-KDTM ngày 14/5/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Công ty Cổ phần M
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần V
Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, D, Cầu G, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T -Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đăng L- Trưởng bộ phận xử lý nợ; bà Nguyễn Thị T1, ông Hoàng Văn D, ông Vũ Minh T2 – Chuyên viên xử lý nợ, cùng địa chỉ: Tầng D, số B đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang( văn bản ủy quyền số 1544/2024/UQ-MARS.VPB ngày 30/11/2024- ông L, bà T1, ông D vắng mặt; ông T2 có mặt)
Địa chỉ: Tòa nhà V, số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D1-Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc H, chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 2090/2024/UQN-KHCMNB02 ngày 10/10/2024- vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, đường H, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh BắcGiang (bà Nguyễn Thị Thanh H1 xuất cảnh ngày 12/10/2023 chưa có thông tin nhập cảnh, không rõ địa chỉ ở nước ngoài)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngày 24/10/2022, giữa Ngân hàng TMCP V với bà Nguyễn Thị Thanh H1 ký Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2210157099324 với nội dung như sau: Số tiền cho vay: 3,750,000,000 đồng, mục đích sử dụng vốn vay để bổ sung vốn kinh doanh buôn bán vật liệu xây dựng, phương thức giải ngân, thời hạn trả nợ gốc, lãi tiền vay, lãi suất cho vay được quy định cụ thể trong Khế ước nhận nợ.
Ngày 24/10/2022 và ngày 25/10/2022 bà H1 ký giấy đề nghị giải ngân với nội dung đề nghị Ngân hàng giải ngân cho vay số tiền 1.900.000.000VNĐ. Ngày 24/10/2022 Ngân hàng đã giải ngân cho bà H1 vay số tiền 1.900.000.000đồng thể hiện tại Khế ước nhận nợ ngày 24/10/2022. Ngày 25/10/2022,Ngân hàng đã giải ngân cho bà H1 vay số tiền 1.850.000.000đồng thể hiện tại Khế ước nhận nợ ngày 25/10/2022.Thời hạn vay trong cả hai khế ước nhận nợ là 12 tháng tính từ ngày tiếp theo ngày Bên Ngân hàng giải ngân số tiền vay, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 10,5%/năm, được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần; thời hạn trả nợ gốc cho Ngân hàng vào ngày kết thúc thời hạn cho vay; thời hạn trả nợ lãi định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà Nguyễn Thị Thanh H1 đã thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: Khu dân cư S, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 535836, Số vào sổ cấp GCN: CS03602/ T31/Q20 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 24/06/2016, tên người sử dụng đất bà Nguyễn Thị Thanh H1 theo Hợp đồng thế chấp số LN2110144506462/HĐTC ký ngày 19/10/2021. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C, thành phố B. Việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Thanh H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 16/10/2023 nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 16/10/2023.
Theo Hợp đồng mua bán nợ số 04/2024/VPB-MARS ngày 30/5/2024, Phụ lục hợp đồng 01 ký ngày 30/5/2024, Hợp đồng mua bán nợ số 14/2024/VPB-MARS ngày 30/11/2024 giữa bên bán nợ là Ngân hàng TMCP V (viết tắt là Ngân hàng) với bên mua nợ là Công ty Cổ Phần M (viết tắt là Công ty) thì Ngân hàng đã bán cho Công ty 99% khoản nợ bao gồm gốc, lãi, lãi phạt, phí chưa thanh toán và các quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ (bao gồm cả tài sản bảo đảm) của Hợp đồng tín dụng số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022.
Khi mua các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng, Công ty Đ thực hiện thủ tục thông báo cho bà H1. Các hợp đồng mua bán nợ, hợp đồng chuyển nhượng nêu trên có hiệu lực từ ngày ký.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Đồng thời, Ngân hàng tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán cho Công tyMARS.
Tạm tính đến ngày 16/09/2024, bà Nguyễn Thị Thanh H1 còn nợ Công ty M và Ngân hàng tổng số tiền 4.540.567.635 đồng trong đó nợ gốc là 3.749.999.72 đồng, nợ lãi và phạt chậm trả lãi là 790.567.663 đồng.
Quá trình xử lý khoản vay, Ngân hàng và Công ty M đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh H1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay nhưng bà Nguyễn Thị Thanh H1 không thực hiện.
Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải thanh toán cho Ngân hàng 01% tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/9/2024 là: 46.356.642 đồng (trong đó, Nợ gốc: 37.500.000 đồng, nợ lãi 8.855.642 đồng) và toàn toàn bộ tiền lãi phát sinh kể từ ngày 17/9/2024 đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng, mức lãi suất theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Lãi phát sinh phải trả cho Ngân hàng tương ứng với tỷ lệ sở hữu của Công ty M và Ngân hàng đối với từng khoản nợ.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số số LN2110144506462/HĐTC ký ngày 19/10/2021 để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: Khu dân cư S, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 535836, Số vào sổ cấp GCN: CS03602/T31/Q20 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 24/06/2016, tên người sử dụng đất bà Nguyễn Thị Thanh H1. Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm được thanh toán cho Công ty M và Ngân hàng tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn là Công ty Cổ phần M (viết tắt là Công ty) trình bày:
Theo Hợp đồng mua bán nợ số 04/2024/VPB-MARS ngày 30/5/2024, Phụ lục hợp đồng 01 ký ngày 30/5/2024, Hợp đồng mua bán nợ số 14/2024/VPB-MARS ngày 30/11/2024 giữa bên bán nợ là Ngân hàng TMCP V (viết tắt là Ngân hàng) với bên mua nợ là Công ty Cổ phần M (viết tắt là Công ty) thì Ngân hàng đã bán cho Công ty 99% khoản nợ bao gồm gốc, lãi, lãi phạt, phí chưa thanh toán và các quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ (bảo gồm cả tài sản bảo đảm) của Hợp đồng tín dụng số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Đồng thời, Ngân hàng tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán cho Công ty M.
Quá trình xử lý khoản vay, Ngân hàng và Công ty M đã nhiều lần đôn đốc,yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh H1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay nhưng bà Nguyễn Thị Thanh H1 không thực hiện.
Do vậy, Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M 99% tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/9/2024 là: 4.589.208.508 đồng (trong đó nợ gốc: 3.712.499.972 đồng, nợ lãi 876.708.536 đồng) và toàn bộ tiền lãi phát sinh kể từ ngày 17/9/2024 đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty, mức lãi suất theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Lãi phát sinh phải trả cho Công ty cổ phần M tương ứng với tỷ lệ sở hữu của Công ty M và Ngân hàng đối với từng khoản nợ.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số LN2110144506462/HĐTC ký ngày 19/10/2021 để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm là:Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: Khu dân cư S, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 535836, Số vào sổ cấp GCN: CS03602/T31/Q20 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 24/06/2016, tên người sử dụng đất bà Nguyễn Thị Thanh H1. Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm được thanh toán cho Công ty M và Ngân hàng tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
Khi mua các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng, Công ty Đ thực hiện thủ tục thông báo cho bà H1. Các hợp đồng mua bán nợ, hợp đồng chuyển nhượng nêu trên có hiệu lực từ ngày ký.
Qúa trình giải quyết, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu như sau:
- Tại Công văn số 13114/QLXNC-P3 ngày 24/6/2024 (do Tòa án thu thập từ hồ sơ Dân sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-DS ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang) Cục Q Bộ C1 cung cấp: Bà Nguyễn Thị Thanh H1 có 05 lượt xuất nhập cảnh, lần gần nhất xuất cảnh ngày 12/10/2023 hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
- Tại Biên bản xác minh ngày 16/12/2024,Cán bộ tư pháp Ủy ban nhân dân phường D cung cấp: Bà Nguyễn Thị Thanh H1 trước đây sinh sống tại địa chỉ số B, đường H, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, hiện nay bà H1 không có mặt tại địa phương, bà H1 đã đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nhưng địa chỉ cụ thể địa phương không nắm được.
- Tại biên bản xác minh ngày 14/3/2025, Tổ trưởng tổ dân phố P, phường H, thành phố B cung cấp: Bà Nguyễn Thị Thanh H1 trước đây có sinh sống tại địa chỉ số B đường H, phường D, thành phố B nhưng hiện tại bà H1 không còn sinh sống tại địa chỉ trên do bà H1 đi nước ngoài. Hiện tại căn nhà số B, đường H bỏ không, không ai sinh sống, trước đây bà H1 có sống cùng mẹ đẻ và các con nhưng mẹ đẻ và các con bà H1 đã dọn đi nơi khác, địa chỉ ở đâu chính quyền địa phương không biết. Tòa án có giao các văn bản tố tụng cho ông để giao lại cho bà H1 thì ông từ chối nhận do bà H1 không sinh sống tại địa phương nên không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp văn bản giấy tờ của Tòa án cho bà H1.
- Kết quả xem xét thẩm định: Thửa đất số 44 tờ bản đồ 34 diện tích 72m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có địa chỉ ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là Khu dân cư sỹ quan thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn B, phường D, thành phố B nay địa chỉ thửa đất là số B, đường H, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tại thời điểm thẩm định trên thửa đất nêu trên có nhà cấp 3, 03 tầng, nhà khóa cửa, không có ai sinh sống, sử dụng; thửa đất không có biến động so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
- Do bà Nguyễn Thị Thanh H1 không có mặt tại nơi cư trú nên Tòa án không tống đạt được trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Nguyễn Thị Thanh H1. Tại địa chỉ nơi cư trú của bà H1 (Số B, đường H, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang) không có người thân thích ở cùng. Tổ trưởng tổ dân phố P từ chối nhận giao văn bản cho bà H1 do bà H1 không có mặt tại địa phương. Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bà H1 theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị H1 không có bản tự khai, không nộp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt trong các phiên hòa giải, công khai chứng cứ.
Tại phiên tòà ngày 14/5/2025: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 19/6/2025:
Bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bản tự khai trình bày quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả tổng số tiền tính đến hết ngày 19/6/2025 là 52.653.377 đồng trong đó nợ gốc là 37.500.000đồng, nợ lãi trong hạn 2.033.330 đồng, nợ lãi quá hạn là 11.336.301 đồng, lãi chậm trả là 1.783.746đồng.
Nguyên đơn là Công ty Cổ phần M trình bày: Căn cứ vào các Hợp đồng mua bán nợ, các phụ lục hợp đồng, Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả tổng số tiền tính đến hết ngày 19/6/2025 là 5.265.337.685 đồng trong đó nợ gốc là 3.749.999.972 đồng, nợ lãi trong hạn là 203.332.984 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.133.630.128 đồng, lãi chậm trả là 178.374.601 đồng. Khi mua bán nợ, Ngân hàng và Công ty Đ thực hiện thủ tục thông báo cho bà H1 bằng văn bản, bằng thư điện tử qua tin nhắn ứng dụng của Ngân hàng, bằng tin nhắn điện thoại. Các hợp đồng mua bán nợ đều có hiệu lực ngay từ thời điểm ký kết. Ngày 24/10/2022 và ngày 25/10/2022 Ngân hàng đã thực hiện việc giải ngân cho bà H1 khoản tiền vay bằng hình thức chuyển vào tài khoản của bà H1 là 186810198 tại Ngân hàng thương mại cổ phần V thể hiện tại số bút toán LD2229701596, LD2229800252.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- + Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả Công ty Cổ phần M 99% nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022 tương ứng với tổng số tiền tính đến hết ngày 19/6/2025 là 5.265.337.685 đồng trong đó nợ gốc là 3.749.999.972đồng, nợ lãi là 1.515.337.713 đồng.
- + Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả Ngân hàng thương mại cổ phần V 01% nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022 tương ứng tổng số tiền tính đến hết ngày 19/6/2025 là 52.653.377 đồng trong đó nợ gốc là 37.500.000đồng, nợ lãi là 15.153.377 đồng.
- + Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh H1 không trả hoặc trả không đầy đủ khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty Cổ phần M thì Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số LN2110144506462/ HĐTC ký ngày 19/10/2021 để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: Khu dân cư S, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 535836, Số vào sổ cấp GCN: CS03602/ T31/Q20 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 24/06/2016, tên người sử dụng đất bà Nguyễn Thị Thanh H1.
- Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm được thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty Cổ phần M tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
- + Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V, Công ty Cổ phần M khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H1 trả tiền gốc, tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, cam kết trong Hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn giao nộp khi nộp đơn khởi kiện, Tòa án xác định tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp dân sự. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, xác định nguyên đơn, bị đơn đều có giấy phép đăng ký kinh doanh (bị đơn có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh), mục đích vay tiền để bổ sung vốn kinh doanh buôn bán vật liệu xây dựng. Căn cứ Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các bên có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo cung cấp của Cục Q- Bộ C1 thì bà Nguyễn Thị Thanh H1 là bị đơn trong vụ án xuất cảnh khỏi Việt Nam trước thời điểm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý vụ án. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa hoặc có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh H1 đang có nghĩa vụ phải trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn nhưng bà H1 đi khỏi nơi cư trú không thông báo cho nguyên đơn và cũng không thông báo địa chỉ nơi ở mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định pháp luật về cư trú. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng bà Nguyễn Thị Thanh H1 vắng mặt không có lý do. Bà H1 đã xuất cảnh khỏi Việt Nam từ ngày 12/10/2023 đến nay chưa có thông tin nhập cảnh. Việc vắng mặt của bà H1 thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Tòa án đã tiến hành niêm yết tất cả các văn bản tố tụng cho bà H1 theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy,Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
*Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[3] Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến làm việc, không nộp bản tự khai thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình.
[4] Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn,các tài liệu do nguyên đơn cung cấp (bản phô tô công chứng Hợp đồng cho vay hạn mức, khế ước nhận nợ, giấy đề nghị giải ngân) xác định: Ngày 25/10/2022 bà Nguyễn Thị Thanh H1 và Ngân hàng thương mại cổ phần V ký Hợp đồng cho vay hạn mức số LN 2210157099324, hợp đồng có chữ ký, đóng dấu của bên cho vay (Ngân hàng), chữ ký của bên vay (bà Nguyễn Thị Thanh H1). Nội dung Hợp đồng cho vay nêu trên ghi nhận thỏa thuận của các bên về hạn mức cho vay, về thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, thời hạn trả nợ gốc, lãi suất tiền vay, chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, thỏa thuận về tài sản bảo đảm là đảm bảo các nội dung theo quy định tại Điều 91, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13, Điều 23, Điều 27, Điều 28 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
[5] Căn cứ vào giấy đề nghị giải ngân ngày 24/10/2022, ngày 25/10/20222, Khế ước nhận nợ ngày 24/10/2022, Khế ước nhận nợ ngày 25/10/2022, giao dịch chuyển khoản do Ngân hàng cung cấp xác định bà Nguyễn Thị Thanh H1 đã được Ngân hàng giải ngân cho vay tổng số tiền 3.750.000.000đồng.
[6] Theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức, các khế ước nhận nợ thì bà Nguyễn Thị Thanh H1 có nghĩa vụ trả tiền gốc vào cuối kỳ, tiền lãi định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng tháng. Tuy nhiên, sau khi được nhận tiền vay bà H1 mới trả được một phần tiền gốc, tiền lãi (trả 267.019.740 đồng nợ lãi và 28 đồng nợ gốc) là vi phạm thỏa thuận, cam kết về kỳ hạn trả nợ gốc, nợ lãi trong hợp đồng tín dụng đã ký. Tính đến hết ngày 19/6/2025, bà H1 còn nợ tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi như Ngân hàng, Công ty trình bày là đúng.
[7] Theo Hợp đồng mua bán nợ số 04/2024/VPB-MARS ngày 30/5/2024, Phụ lục hợp đồng 01 ký ngày 30/5/2024, Hợp đồng mua bán nợ số 14/2024/VPB-MARS ngày 30/11/2024 thì Ngân hàng đã bán cho Công ty Cổ phần M 99% khoản nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022. Như vậy, Ngân hàng TMCP V đã chuyển giao quyền yêu cầu đối với một phần khoản tiền bà Nguyễn Thị Thanh H1 vay nợ Ngân hàng cho Công ty Cổ phần M và Công ty Cổ phần M được kế thừa một phần quyền nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng theo Điều 365, Điều 368 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 4 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc Ngân hàng, Công ty khởi kiện yêu cầu bà H1 trả số tiền nợ gốc, nợ lãi còn nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022 theo tỷ lệ mua bán nợ là 99%, 01% là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng mua bán nợ và có căn cứ theo Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 7, 8,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất; các Điều 18, 20, 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Khoản 4, Điều 18 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 06/2023/TT-NHNN ngày 28 tháng 6 năm 2023) nên được chấp nhận.
[8] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Việc thế chấp tài sản được lập thành văn bản, được ký kết trên cơ sở tự nguyện định đoạt của những người có thẩm quyền, mục đích và nội dung thỏa thuận không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm pháp luật, hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C, được đăng ký giao dịch bảo đảm tại tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B là đảm bảo theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 167 Luật đất đai; các Điều 293, 299, 320, 322 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 8, 22, 24, 25 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ; Điều 21 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, nên có hiệu lực pháp luật. Qúa trình giải quyết vụ án, bà H1 không có ý kiến gì về tài sản thế chấp, về việc thế chấp tài sản, về hợp đồng thế chấp. Do vậy, yêu cầu của Ngân hàng, của Công ty về việc đề nghị xử lý, phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không hết nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng thế chấp các bên đã ký cũng như phù hợp với quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể số tiền án phí bị đơn phải chịu trên tổng số tiền 5.317.991.062đồng là: 112.000.000đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000đồng là (5.317.991.062đồng- 4.000.000.000đồng)=113.317.991 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[10] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty Cổ phần M đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải hoàn trả cho Công ty Cổ phần M số tiền 900.000đồng tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[12] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị Thanh H1 đang ở nước ngoài có quyền kháng cáo bản án theo khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 299, Điều 317, Điều 319, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 90; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
Căn cứ Điều 167 Luật đất đai 2013
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 35, Điều 37 và Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả Công ty Cổ phần M 99% nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022 tương ứng với tổng số tiền tính đến hết ngày 19/6/2025 là 5.265.337.685 đồng (bằng chữ: Năm tỷ, hai trăm sáu mươi lăm triệu, ba trăm ba mươi bẩy nghìn, sáu trăm tám mươi lăm đồng) trong đó nợ gốc là 3.749.999.972 đồng, nợ lãi là 1.515.337.713 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả Ngân hàng thương mại cổ phần V 01% nợ gốc, nợ lãi của Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2210157099324 ký ngày 24/10/2022 tương ứng tổng số tiền tính đến hết ngày 19/6/2025 là 52.653.377 đồng (bằng chữ: Năm mươi hai triệu, sáu trăm năm mươi ba nghìn, ba trăm bẩy mươi bẩy đồng) trong đó nợ gốc là 37.500.000đồng, nợ lãi là 15.153.377 đồng.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh H1 không trả hoặc trả không đầy đủ khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty Cổ phần M thì Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số LN2110144506462/ HĐTC ký ngày 19/10/2021 để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 34, địa chỉ: Khu dân cư S, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 535836, Số vào sổ cấp GCN: CS03602/ T31/Q20 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 24/06/2016, tên người sử dụng đất bà Nguyễn Thị Thanh H1. Số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm được thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty Cổ phần M tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
- Về án phí:
- - Bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải chịu 113.317.991đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (bằng chữ: Một trăm mười ba triệu, ba trăm mười bẩy nghìn, chín trăm chín mươi mốt đồng).
- - Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 11.082.000đồng (bằng chữ: Mười một triệu, không trăm tám mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000251 ngày 03/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- - Hoàn trả Công ty Cổ phần M số tiền 60.326.000đồng (bằng chữ: Sáu mươi triệu, ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000252 ngày 03/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải hoàn trả Công ty Cổ phần M 900.000đồng (bằng chữ: Chín trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
- - Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Số tiền lãi quá hạn được thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V,Công ty Cổ phần M tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Thanh H1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
Bản án số 22/2025/KDTM - ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 22/2025/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty M và chị H
