trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/KDTM-PT

Ngày: 27 - 3 - 2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Hùng

Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 93/2024/TLPT-KDTM ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1132/2025/QĐPT ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH C2 - Chi nhánh Thành phố H; trụ sở: phòng 1, 2, 3, 9, lầu G, phòng 1-9, lầu 9, Tòa nhà MPlaza Saigon, số C, đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty L1 do bà Trần Mỹ L, chức vụ: Giám đốc (văn bản ủy quyền ngày 20/02/2024); Địa chỉ: lầu E, Tòa nhà H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Công ty L1 ủy quyền lại cho bà Bùi Thị Trinh H; địa chỉ: Lầu E, Tòa nhà H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 12/12/2024). Có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH L2; trụ sở: lô C2, khu công nghiệp K - khu A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật: bà H1, M-H; chức vụ: Tổng Giám đốc; thường trú: 3F, No.29, L, S.3, C-D., T, Đài Loan, Trung Quốc; địa chỉ liên hệ: số C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1997; địa chỉ: B, đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (văn bản uỷ quyền ngày 02/4/2024). Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Lê Bảo Q- luật sư Công ty L3 Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: số B, đường T, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. L2; địa chỉ: Portcullis C, P, A, S1.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Bà H1, M-Hao; chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

  3. N; địa chỉ: Vistra C, W, R, T, VG1110, British V.
  4. Người đại diện theo pháp luật: Bà H1, M-Hao; chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

  5. Bà H1, M-H5; hộ chiếu số: [...] cấp ngày 22/02/2022; thường trú: 3F, No.29, L, S.3, C-D., T, Đài Loan, Trung Quốc; địa chỉ liên hệ: Số C, khu phố B, phường B, Thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  6. Ông Wang Chih H3; hộ chiếu số: [...] cấp ngày 30/5/2019; thường trú: 3F, No.29, L, S.3, C-D., T, Đài Loan, Trung Quốc. Vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn - Công ty TNHH L2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21/02/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 07/02/2023, Ngân hàng TNHH C2 - Chi nhánh T1 (gọi tắt Ngân hàng C2) và Công ty TNHH L2 (gọi tắt là Công ty L2) ký Thư tín dụng số STVN1098/2271-23 về việc cấp khoản tín dụng như sau:

Khoản tín dụng 1: Tín dụng ngắn hạn tuần hoàn (VN1098) với hạn mức tín dụng là 2.000.000 USD; thời hạn khoản tín dụng là 01 năm tuần hoàn từ ngày thư tín dụng được hai bên ký đầy đủ.

Khoản tín dụng 2: Tín dụng ngắn hạn không tuần hoàn (VN2271) với hạn mức tín dụng là 250.000 USD; thời hạn khoản tín dụng là 01 năm từ ngày cấp khoản ứng vay đầu tiên.

Lãi suất vay được áp dụng cho mỗi khoản vay đối với từng giai đoạn tính lãi sẽ là mức lãi suất theo năm do Ngân hàng xác định và được bên vay chấp thuận.

Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, Công ty L2 đã ký Hợp đồng bảo đảm bằng hàng hoá số IV-STVN1098-22 ký ngày 04/11/2022 với Ngân hàng để làm thế chấp, trong đó xác định tài sản bảo đảm là tài khoản và các khoản sinh lợi và quyền lợi khác gắn liền hoặc phát sinh từ tài khoản.

Đồng thời tín dụng thư còn có sự bảo lãnh của các bên:

  1. NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD theo cam kết bảo lãnh công ty S2 ký ngày 07/02/2023.
  2. NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD theo cam kết bảo lãnh Công ty S3 ký ngày 07/02/2023.
  3. Cá nhân bà H1, M-Hao theo cam kết bảo lãnh cá nhân số PG2-STVN1098 /2271-23 ký ngày 07/02/2023.
  4. Cá nhân ông Wang Chih H3 theo cam kết bảo lãnh cá nhân số PG1-STVN1098 /2271-23 ký ngày 07/02/2023.

Theo các cam kết bảo lãnh thì bên bảo lãnh không hủy ngang vô điều kiện với Ngân hàng, sẽ thanh toán toàn bộ số tiền mà Công ty L2 phải thanh toán cho Ngân hàng T2 và ngay khi có yêu cầu lần đầu bằng văn bản của Ngân hàng, bên bảo lãnh sẽ thanh toán số tiền do Ngân hàng yêu cầu tại thời điểm bằng loại tiền và theo phương thức mà Ngân hàng xác định bằng thông báo cho bên bảo lãnh.

Ngày 04/05/2023, Ngân hàng C2 và Công ty L2 đã ký kết Thoả thuận sửa đổi thư tín dụng số AC-STVN1098/2271-23 và là một phần của Thư tín dụng số STVN1098/2271-23 ký ngày 07/02/2023.

“Doanh thu bán hàng từ D phải được chuyển vào tài khoản của bên vay và/hoặc bên bảo lãnh của bên vay tại Ngân hàng C2. Tổng số tiền chuyển hàng năm từ các bên mua hàng và chiết khấu thư tín dụng vào tài khoản của bên vay và các công ty có liên quan tại Ngân hàng C2 phải lớn hơn 14.000.000 USD”.

Ngày 17/5/2023, Ngân hàng và Công ty L2 đã ký kết thoả thuận sửa đổi Thư tín dụng số AC2-STVN1098/2271-23 là một phần của Thư tín dụng số STVN/2271-23 ký ngày 07/02/2023. Điều chỉnh khoản cấp tín dụng ngắn hạn tuần hoàn:

“1. Điều khoản B “khoản tín dụng 1”, mục 1, 3 và 11 được sửa đổi:

Ngân hàng cấp khoản tín dụng cho bên vay căn cứ vào các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng này với tổng số tiền 1.750.000 USD hoặc số tiền tương đương bằng những đồng tiền khác theo sự chấp thuận của Ngân hàng

2. Các hình thức cấp khoản ứng vay: vay ngắn hạn không vượt quá 1.750.000 USD

Số dư nợ của bên vay dưới khoản tín dụng này phải giảm xuống tới 1.750.000 USD trước cuối tháng 6/2023..”

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã cấp tín dụng cho Công ty L2 và tiến hành giải ngân số tiền theo đúng thoả thuận các bên.

Ngày 27/12/2023, Ngân hàng C2 đã gửi Công văn số CTBC/HCM/2023/03/MK/26 đến Công ty L2 và các bên bảo lãnh là H1, M-hao; W, C1-Hung; Nicebaby F để yêu cầu thanh toán nợ về việc Công ty L2 có các khoản đến hạn từ ngày 12/12/2023. Tuy nhiên, cho đến ngày 27/12/2023, gốc và lãi chưa được hoàn trả đúng hạn.

Đến ngày 27/12/2023, Công ty L2 còn nợ Ngân hàng số tiền gốc 47.864.882.570 đồng, lãi trong hạn là 148.474.032 đồng, lãi quá hạn nợ gốc là 26.855.211 đồng; tổng các khoản nợ tạm tính là 48.040.211.823 đồng.

Các khoản dư nợ vay bằng USD được quy đổi sang VNĐ theo tỷ giá quy đổi USD/VNĐ là 24.330 đồng (giá mua và giá bán tại cuối ngày 27/12/2023).

Do đó, Ngân hàng C2 khởi kiện bị đơn yêu cầu Toà án giải quyết:

Buộc Công ty TNHH L2; NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD; bà H1, M-H; ông W, C1-Hung liên đới trả số tiền nợ gốc là 47.864.882.570 đồng (bốn mươi bảy tỷ, tám trăm sáu mươi bốn triệu, tám trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm bảy mươi đồng); nợ lãi trong hạn tính đến ngày 27/12/2023 là 148.474.032 đồng (một trăm bốn mươi tám triệu, bốn trăm bảy mươi bốn nghìn, không trăm ba mươi hai đồng); tiền lãi quá hạn nợ gốc tính đến ngày 27/12/2023 là 26.855.211 đồng (hai mươi sáu triệu, tám trăm năm mươi lăm nghìn, hai trăm mười một đồng); tổng cộng gốc và lãi là 48.040.211.823 đồng (bốn mươi tám tỷ, không trăm bốn mươi triệu, hai trăm mười một nghìn, tám trăm hai mươi ba đồng).

Trong thời gian chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, ngày 06/02/2024, Công ty L2 đã thực hiện trả một phần nợ gốc, cụ thể: tiền gốc khoản vay bằng USD đã trả là 525.660,54 USD; tiền gốc khoản vay bằng VNĐ đã trả là 9.988.690 VNĐ.

Tại đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 31/7/2024, Ngân hàng C2 đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD; NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD; bà H1, M-H4 và ông W, C1-Hung liên đới trả số tiền nợ gốc và lãi là 48.040.211.823 đồng (bốn mươi tám tỷ, không trăm bốn mươi triệu, hai trăm mười một nghìn, tám trăm hai mươi ba đồng); rút yêu cầu buộc Công ty L2 thanh toán số tiền gốc khoản vay bằng USD là 525.660,54 USD; tiền gốc khoản vay bằng VNĐ là 9.988.690 VNĐ.

Ngân hàng xác định lại yêu cầu khởi kiện là buộc Công ty L2 phải:

Thanh toán tiền vay theo hợp đồng bằng USD là 1.168.861,42 USD (gốc) + 33.015,92 USD (lãi) = 1.201.877,34 USD.

Thanh toán tiền vay theo hợp đồng bằng VNĐ là 6.627.174.593 đồng (gốc) + 146.871.955 đồng (lãi) = 6.774.046.548 đồng.

Tiền lãi trên số nợ gốc được tính cho đến ngày trả nợ xong theo Thư tín dụng số STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023 và Thoả thuận sửa đổi thư tín dụng số AC-STVN1098/2271-23 ngày 04/05/2023.

Bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Qúa trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn (văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024) trình bày: Bị đơn thừa nhận có vay số tiền 1.694.521,96 USD; thời điểm vay cuối cùng là 31/12/2023 theo Thư tín dụng số STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023 và các thư tín dụng bổ sung.

Bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền 525.680,54 USD, không xác định trả gốc bao nhiêu và và lãi bao nhiêu nhưng tính đến ngày 05/02/2024, bị đơn chỉ còn nợ lại số tiền 1.168.841,42USD. Đối với số tiền vay bằng VNĐ, bị đơn sẽ có ý kiến chính thức gửi Tòa án sau.

Trong khoảng thời gian từ ngày 05/02/2024 đến ngày 31/7/2024, Công ty L2 và những người bảo lãnh vay hoàn toàn không trả bất cứ khoản nợ vay nào cho Ngân hàng CTBC vì Công ty L2 đang gặp khó khăn về tài chính. Số tiền 525.660,54 USD và 9.988.690 VNĐ là tiền trong tài khoản của Công ty L2 tại Ngân hàng và được dùng để bảo đảm cho các khoản vay phát sinh. Tuy nhiên, khi chưa có ý kiến của Công ty L2, ngày 06/02/2024, Ngân hàng đã tự ý khấu trừ số tiền này mà không thông báo cho Công ty L2 biết.

Ngày 04/9/2024, bị đơn có đơn phản tố yêu cầu Toà án buộc Ngân hàng TNHH C2 - Chi nhánh Thành phố H khôi phục lại số dư 525.660,54 USD và 9.988.690 đồng trên tài khoản của Công ty L2 mở tại Ngân hàng và duy trì số tài sản này cho đến khi vụ kiện giữa các bên được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bị đơn còn đề nghị triệu tập NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD, NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD, bà H1, M-H4 và ông W, C1-Hung tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TNHH C2 về việc buộc NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD; NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD; bà H1, M-H4 và ông W, C1-Hung có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ vay của Công ty TNHH L2; theo Cam kết bảo lãnh (Công ty) số CG1-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023, cam kết bảo lãnh (Công ty) số CG2-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023, cam kết bảo lãnh (cá nhân) số PG2-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023 và Cam kết bảo lãnh (cá nhân) số PG1-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C2 - chi nhành Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị đơn Công ty TNHH L2.

Buộc Công ty TNHH L2 phải trả tiền vay cho Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H số tiền (gốc) 1.168.861,42 USD và lãi 33.015,92 USD, tổng cộng 1.201.877,34 USD (một triệu, hai trăm lẻ một nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng và ba mươi bốn cent).

Buộc Công ty TNHH L2 phải trả tiền vay cho Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H số tiền (gốc) 6.627.174.593 đồng và lãi 146.871.955 đồng; tổng cộng 6.774.046.548 đồng (sáu tỷ, bảy trăm bảy mươi bốn triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn, năm trăm bốn mươi tám đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH L2 còn phải trả lãi cho Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H theo thỏa thuận tại Thư tín dụng số STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023, Thoả thuận sửa đổi thư tín dụng số AC-STVN1098/2271-23 ngày 04/05/2023 và các chứng từ giải ngân kèm theo hai thư tín dụng trên.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 11/10/2024, bị đơn Công ty TNHH L2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn Công ty TNHH L2 có đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cùng trình bày:

Cấp sơ thẩm xác nhận bị đơn và 04 cá nhân khác là Công ty L2, công ty L2, bà Huang M-H, ông Wang C1-H3 đứng ra vay khoản vay nhưng không buộc những người bảo lãnh phải trả nợ là vi phạm tố tụng. Ngoài ra, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại số tiền nợ gốc, cụ thể bị đơn chỉ còn nợ lại số tiền 1.168.841,42USD. Số tiền 525.660,54 USD của Công ty L2 đưa vào Ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ công ty L2 nhưng phía Ngân hàng tự ý khấu trừ số tiền đó ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của công ty nhưng chưa được khấu trừ vào khoản nợ gốc. Từ các phân tích trên, cấp sơ thẩm chưa thu thập, đánh giá đầy đủ chứng cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hủy án sơ thẩm để giao Tòa án cấp sơ thẩm xử lại.

Nguyên đơn Ngân hàng TNHH C2 - Chi nhánh Thành phố H có đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH L2 làm trong hạn luật định và hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, đánh giá đầy đủ tài liệu, chứng cứ nên bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ, đúng quy định. Người kháng cáo không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của Công ty TNHH L2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty L2 làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Theo đơn kháng cáo, Công ty TNHH L2 kháng cáo cho rằng Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương có vi phạm về tố tụng, thụ lý xét xử vụ án là không đúng thẩm quyền, không đưa những người bảo lãnh vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của Công ty TNHH L2 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số nợ gốc của Công ty.

Xét thấy, tại đơn khởi kiện ngày 21/02/2024, nguyên đơn Ngân hàng TNHH C2 khởi kiện buộc Công ty L2, NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD; NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD; bà H1, M-H; ông W, C1-Hung liên đới trả số tiền nợ gốc là 47.864.882.570 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày 27/12/2023 là 148.474.032 đồng; tiền lãi quá hạn nợ gốc tính đến ngày 27/12/2023 là 26.855.211 đồng; tổng cộng gốc và lãi là 48.040.211.823 đồng. Theo đó, Công ty L2 vi phạm nghĩa vụ của các Hợp đồng tín dụng mà công ty đã ký với Ngân hàng TNHH C2. Tổ chức nước ngoài NICEBABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD, NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD và cá nhân bà H1, M-Hao; ông W, C1-H phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã ký với Ngân hàng TNHH C2 (các thư bảo lãnh ký ngày 07/02/2023).

Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là: 02 tổ chức nước ngoài NICEBABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD, NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD và 02 cá nhân bà H1, M-Hao; ông W, C1-H.

Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 31/7/2024, nguyên đơn Ngân hàng C2 nộp đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về trách nhiệm liên đới trả tiền của NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD, NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD; bà H1, M-H; ông W, C1-H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng CTBC về trách nhiệm liên đới của NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD, NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD; bà H1, M-H; ông W, C1-Hung theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trên cơ sở đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn về các nội dung liên quan đến thẩm quyền, thủ tục tố tụng giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

[2] Về nội dung:

Nguyên đơn Ngân hàng TNHH C2 - Chi nhánh thành phố H (Ngân hàng), mã số doanh nghiệp C3, đăng ký thành lập lần đầu ngày 24/4/2002, đăng ký thay đổi lần thứ 19, ngày 20/12/2022; thành lập theo Giấy phép số 103/GP-NHNN ngày 30/10/2018 của Ngân hàng N1. Bị đơn Công ty TNHH L2 (Công ty L2), mã số doanh nghiệp: 3700550195, đăng ký thành lập lần đầu ngày 09/6/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 07, ngày 02/12/2020; chức năng: sản xuất, gia công sản xuất đồ gỗ các loại. Công ty L2 có nhu cầu về ngoại tệ để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu với các đối tác nước ngoài phù hợp với giấy phép đăng ký kinh doanh. Do đó, hợp đồng tín dụng về việc Ngân hàng cho Công ty L2 vay ngoại tệ (USD) là phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.

Nguyên đơn chứng minh bị đơn vay tiền bằng thư tín dụng số STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023, các thư tín dụng sửa đồi bổ sung số AC-STVN1098/2271-23 ngày 04/5/2023; các chứng từ giải ngân từ tháng 08/12/2023 đến 11/12/2023 () số: 907ERSU2300303 ngày 11/12/2023, 907ERSU2300300 ngày 08/12/2023, 907ERSU2300293 ngày 04/12/2023, 907ERSU2300291 ngày 01/12/2023, 907ERSU2300290 ngày 30/12/2023, 907ERSU2300287 ngày 29/11/2023; 907ERSU2300284 ngày 28/11/2023, 907ERSU2300283 ngày 28/11/2023, 907ERSU2300278 ngày 13/11/2023, 907ERSU2300276 ngày 09/11/2023, 907ERSU2300274 ngày 09/11/2023, 907ERSU2300273 ngày 09/11/2023, 907ERSU2300270 ngày 06/11/2023, 907ERSU2300267 ngày 06/11/2023, 907ERSU2300259 ngày 25/10/2023, 907ERSU2300256 ngày 24/10/2023, 907ERSU2300255 ngày 20/10/2023, 907ERSU2300252 ngày 18/10/2023, 907ERSU2300250 ngày 16/10/2023, 907ERSU2300230 ngày 28/9/2023, 907ERSU2300223 ngày 25/9/2023, 907ERSU2300219 ngày 15/9/2023, 907ERSU2300216 ngày 14/9/2023, 907ERSU2300214 ngày 08/9/2023, 907ERSU2300211 ngày 07/9/2023, 907ERSU2300210 ngày 06/9/2023, 907ERSU2300202 ngày 28/8/2023, 907ERSU2300201 ngày 25/8/2023, 907ERSU2300200 ngày 25/8/2023, 907ERSU2300199 ngày 24/8/2023, 907ERSU2300296 ngày 22/8/2023, 907ERSU2300195 ngày 21/8/2023, 907ERSU2300193 ngày 17/8/2023, 907ERSU2300192 ngày 16/8/2023, 907ERSU2300190 ngày 14/8/2023, 907ERSU2300032 ngày 01/3/2023, 907ERSU2300305 ngày 11/12/2023; lãi suất thỏa thuận giữa hai bên từ 4% đến 6,25%/năm (VND) và từ 5,85%/năm đến 6,45%/năm (USD) không trái quy định của pháp luật.

Ngân hàng xác định lại yêu cầu khởi kiện là buộc Công ty L2 phải:

Thanh toán tiền vay theo hợp đồng bằng USD là 1.168.861,42 USD (gốc) + 33.015,92 USD (lãi) = 1.201.877,34 USD.

Thanh toán tiền vay theo hợp đồng bằng VNĐ là 6.627.174.593 đồng (gốc) + 146.871.955 đồng (lãi) = 6.774.046.548 đồng.

Tiền lãi trên số nợ gốc được tính cho đến ngày trả nợ xong theo Thư tín dụng số STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023 và Thoả thuận sửa đổi thư tín dụng số AC-STVN1098/2271-23 ngày 04/05/2023.

Theo biên bản ngày 08/4/2024, bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 1.168.861,42 USD và trình bày sẽ có ý kiến giải trình về số tiền nợ VNĐ. Tuy nhiên, sau đó, bị đơn vẫn không có ý kiến về số tiền nợ vay bằng VNĐ. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Phía bị đơn trình bày là nguyên đơn đã tự ý khấu trừ tiền nợ từ tài khoản của bị đơn là trái ý chí của bị đơn. Tuy nhiên, tại Phụ lục số 01 về những điều khoản và điều kiện chung (bút lục số 31) mà hai bên đã ký có quy định “...bất kỳ sự vi phạm nào của bên vay, không cần thông báo trước......Ngân hàng có quyền thực hiện thanh toán bù trừ và sử dụng bất kỳ số dư có trên tài khoản của bên vay..……”;vì vậy, Ngân hàng khấu trừ nợ trên số dư tài khoản của bị đơn tại Ngân hàng là đúng thỏa thuận tại hợp đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cho rằng số tiền đã khấu trừ tại từ tài khoản phải được khấu trừ vào số nợ gốc. Tuy nhiên, các tài liệu về việc xác nhận nợ giữa các bên được xác lập sau khi đã khấu trừ tiền tại tài khoản. Phía Ngân hàng đã cung cấp các thư tín dụng, chứng từ giải ngân phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn về số tiền vay gồm : 1.168.861,42 USD (gốc) +33.015,92 USD (lãi) = 1.201.877,34 USD; và 6.627.174.593 đồng (gốc) + 146.871.955 đồng (lãi) = 6.774.046.548 đồng. Ngoại tệ USD quy đổi VNĐ theo tỷ giá trung bình giữa mua và bán USD của V thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 27/9/2024 là 01 USD = 24.575 VNĐ. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Công ty TNHH L2 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH L2. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương như sau:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TNHH C2 về việc buộc NICABABY FURNITURE INTERNATIOANL LTD; NICE FURNITURE INTERNATIOANL LTD; bà H1, M-H4 và ông W, C1-Hung có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ vay của Công ty TNHH L2; theo Cam kết bảo lãnh (Công ty) số CG1-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023, cam kết bảo lãnh (Công ty) số CG2-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023, cam kết bảo lãnh (cá nhân) số PG2-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023 và Cam kết bảo lãnh (cá nhân) số PG1-STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C2 - chi nhành Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị đơn Công ty TNHH L2.

Buộc Công ty TNHH L2 phải trả tiền vay cho Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H số tiền (gốc) 1.168.861,42 USD và lãi 33.015,92 USD, tổng cộng 1.201.877,34 USD (một triệu, hai trăm lẻ một nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng và ba mươi bốn cent).

Buộc Công ty TNHH L2 phải trả tiền vay cho Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H số tiền (gốc) 6.627.174.593 đồng và lãi 146.871.955 đồng; tổng cộng 6.774.046.548 đồng (sáu tỷ, bảy trăm bảy mươi bốn triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn, năm trăm bốn mươi tám đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH L2 còn phải trả lãi cho Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H theo thỏa thuận tại Thư tín dụng số STVN1098/2271-23 ngày 07/02/2023, Thoả thuận sửa đổi thư tín dụng số AC-STVN1098/2271-23 ngày 04/05/2023 và các chứng từ giải ngân kèm theo hai thư tín dụng trên.

  1. Về án phí kinh doanh, thương mại:
  2. - Về án phí sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 phải chịu 144.310.182 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm mười nghìn, một trăm tám mươi hai đồng).

    Nguyên đơn Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H không phải chịu. Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương trả cho Ngân hàng C2 - chi nhánh Thành phố H số tiền 78.020.105 đồng (bảy mươi tám triệu, không trăm hai mươi nghìn, một trăm lẻ năm đồng) theo biên lai thu số 0000098 ngày 11 tháng 3 năm 2024.

    - Về án phí phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) được cấn trừ với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 đã nộp theo B lại số 0003512 ngày 16/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 đã nộp đủ tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

  3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Hùng

Nguyễn Thị Thanh

Bùi Thị Thu

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - TAND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Những người tham gia tố tụng; (2)
  • - Lưu VP; HSVA; ĐTM. (6) - 13

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/KDTM-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 22/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH L2. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 10/2024/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger