Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-PT

Ngày: 03/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan và bà Vũ Ngọc Hà;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 95/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Mai Đ và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo B và các bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.

Bị cáo bị kháng cáo:

Mai Đ, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1995, tại Phú Yên; Nơi thường trú: 3 T, Phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Mai H, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1963; Tiền sự, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 28/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2016; Ngày 22/10/2009, bị Công an thành phố T xử phạt cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 18/12/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khởi tố bị can về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt tại phiên toà.Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Nhật B, Sinh ngày 08 tháng 12 năm 2004, tại Phú Yên; Nơi cư trú: khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Sinh viên Trường Cao đẳng K tại thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Văn N, sinh năm 1983 và bà Diệp Thị Tuyết T1, sinh năm 1981; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại có kháng cáo:

1. Ông Vũ Văn C, sinh năm 1982; Nơi cư trú: A N, Phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bà Dương Thị Thanh N1, sinh năm 1977; Nơi cư trú: A N, Phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại: Luật sư Trần Thị Như T2 và luật sư Bùi Thị Mỹ H1 - Văn phòng L. Địa chỉ: C N, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 08/8/2023, Phạm Nhật B điều khiển xe mô tô chở Mai Đ lưu hành trên đường N thì thấy bị hại Vũ Văn C đang đứng trước cửa tại số nhà A đường N, Phường D, thành phố T nên Đ nói B dừng xe rồi cả hai cùng đi bộ đến chỗ của anh C. Đ yêu cầu anh C trả một khoản tiền do một người tên T1 (không rõ lai lịch) gán nợ, anh C nói không nợ tiền của Đ nên hai bên xảy ra cãi vã. Đ dùng tay đánh hai cái liên tiếp trúng vào mặt anh C, anh C chạy vào bên trong thì Đ nắm cổ áo anh C kéo lê người anh C một đoạn từ trong nhà ra cửa rồi cùng với B dùng tay, chân đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu, mặt, ngực, bụng và chân của anh C gây thương tích. Lúc này, vợ anh C là chị Dương Thị Thanh N1 ra che chắn cho anh C và cùng mọi người can ngăn. Đ vẫn tiếp tục cầm cổ áo anh C, còn B tiếp tục dùng chân phải đá trúng vào vùng mặt của anh C gây thương tích. Sau đó, Đ và B ra xe định bỏ đi thì chị N1 ra đứng trước cửa nói với Đ và B có gì từ từ nói, sao đánh anh C và sẽ báo Công an bắt Đ và B. Đ quay lại dùng chân phải đá liên tiếp ba cái trúng vào vùng hông bên phải của chị N1 làm chị N1 té ngã gây thương tích, được mọi người can ngăn, Đ chở B bỏ đi, còn anh C, chị N1 được đưa đi cấp cứu, điều trị. Ngày 05/10/2023 và 23/10/2023, anh C, chị N1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 323/KLTTCT-PYPY ngày 07/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: anh Vũ Văn C bị thương tích tỷ lệ 03%, do vật tày tác động. Đánh giá từng vết thương: 02% đánh giá cho sẹo cổ phải diện (2,5x 0,4) cm. 1% đánh giá mảng thay đổi sắc da mặt trước ngoài 1/3 giữa đùi phải diện (4x1) cm.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 352/KLTTCT-PYPY ngày 22/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: chị Dương Thị Thanh N1 bị các tổn thương: Môi trên, cánh tay phải, cánh tay trái, mặt trong đầu trên cẳng chân phải, dưới gối trái là do ngoại lực tác động, thương tích tỷ lệ 03%, do vật tày tác động.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 01/KLTTCT-PYPY “bổ sung” ngày 10/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh P đối với bị hại Vũ Văn C kết luận: “Qua kết quả Xquang + MRI của bệnh viện C1 và kết quả MRI của bệnh viện đa khoa tỉnh P ngày 04/1/2024 xác định thoái hoá cột sống cổ là do bệnh lý. Còn thoát vị đĩa đệm tầng C3/4; C4/5; C5/6 làm chèn ép tuỳ gây phù tuỷ vượt quá khả năng nên không thể đánh giá do bệnh lý hay ngoại lực tác động. Vì vậy cũng không thể xác định tỷ lệ tổn thương phần cột sống cổ.

Kết luận giám định số 58/KTTTCT-PVPYQG ngày 29/02/2024 của V tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Vết thay đổi sắc tố da vùng đùi phải, sưng bầm vùng sau tai trái, sưng đau ngón 1 tay trái, sây sát da vùng cổ và ngực phải hiện không còn dấu vết, tổn thương dập tuỷ cổ tầng C4-5 và thoát vị đĩa đệm tầng C4-5, C5-6 đã thay đĩa đệm nhân tạo của Vũ Văn C là tổn thương do ngoại lực tác động. Tuy nhiên, do không có phim chụp MRI thời điểm vào viện từ ngày 08/8/23 đến ngày 11/8/2023 nên không xác định được thời điểm gây ra các tổn thương này. Sẹo vùng cổ phải là do phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo gây ra. Trường hợp, ông Vũ Văn C bị người khác dùng tay, chân đánh nhiều cái vào vùng mặt, vùng đầu, vào người làm ông C té ngã thì có thể gây ra các tổn thương trên”.

Kết luận giám định lại số 59/KLTTCT-PVPYQG ngày 08/3/2024 tại V tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2029 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Văn C tại thời điểm giám định là: - Vết thay đổi sắc tố da vùng đùi phải: 01% (Một phần trăm). - Các tổn thương giập tuỷ cổ tầng C4-5, thoát vị đĩa đệm tầng C4-5, C5-6 đã phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo: do không xác định được chính xác thời điểm chấn thương gây ra các tổn thương này nên không đủ cơ sở để xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Mai Đ, Phạm Nhật B phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm i, Khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 (đối với các bị cáo); áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo B); Xử phạt: Mai Đ 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/12/2023; Phạm Nhật B 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Mai Đ phải bồi thường số tiền 21.102.058 đồng trong đó bồi thường cho bị hại Vũ Văn C số tiền 13.030.611 đồng, bồi thường cho bị hại Dương Thị Thanh N1 số tiền 8.071.447 đồng. Bị cáo Đ đã nộp tiền bồi thường 5.000.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 16.102.058 đồng.

Bị cáo Phạm Nhật B phải bồi thường số tiền 21.102.058 đồng trong đó bồi thường cho bị hại Vũ Văn C là 13.030.611 đồng, bồi thường cho bị hại Dương Thị Thanh N1 là 8.071.447 đồng. Bị cáo Phạm Nhật B đã nộp số tiền 20.000.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 1.102.058 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/9/2024, bị cáo Phạm Nhật B kháng cáo xin được phạt cải tạo không giam giữ.

Ngày 02/10/2024, các bị hại Vũ Văn C, Dương Thị Thanh N1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 03/3/2025, các bị hại Vũ Văn C, Dương Thị Thanh N1 có đơn rút kháng cáo và rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Phạm Nhật B.

Tại phiên tòa, bị cáo B xin rút yêu cầu kháng cáo; Các bị hại Vũ Văn C, Dương Thị Thanh N1 có đơn xin xét xử vắng mặt và xin rút kháng cáo và rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Phạm Nhật B.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của các bị hại đối với bị cáo Mai Đ – Giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Mai Đ. Áp dụng điểm i Khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Mai Đ - 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/12/2023.
  • - Căn cứ Khoản 2 Điều 155; Điều 359 BLTTHS; Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Phạm Nhật B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đối với kháng cáo yêu cầu giám định lại thương tích của bị hại Vũ Văn C, Dương Thị Thanh N1, hội đồng xét xử thấy:

[1.1] Theo kết luận số: 323/KLTTCT-PYPY ngày 07/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: anh Vũ Văn C bị thương tích tỷ lệ 03%, do vật tày tác động. Bị hại Vũ Văn C không đồng ý kết luận giám định, có khiếu nại về kết luận giám định và yêu cầu giám định theo quy định pháp luật. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố T đã ra quyết định trưng cầu giám định số 232/QĐ-ĐTTH ngày 30/01/2024 và Quyết định trưng cầu giám định lại số 233/QĐ-ĐTTH ngày 30/01/2024 gửi V tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, ngày 29/02/2024 V tại thành phố Hồ Chí Minh ban hành kết luận số 58/KLTTCT-PVPYQG, kết luận: “Vết thay đổi sắc tố da vùng đùi phải, sưng bầm vùng sau tai trái, sưng đau ngón 1 tay trái, sây sát da vùng cổ và ngực phải hiện không còn dấu vết, tổn thương dập tuỷ cổ tầng C4-5 và thoát vị đĩa đệm tầng C4-5, C5-6 đã thay đĩa đệm nhân tạo của Vũ Văn C là tổn thương do ngoại lực tác động. Tuy nhiên, do không có phim chụp MRI thời điểm vào viện từ ngày 08/8/23 đến ngày 11/8/2023 nên không xác định được thời điểm gây ra các tổn thương này. Sẹo vùng cổ phải là do phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo gây ra. Trường hợp, ông Vũ Văn C bị người khác dùng tay, chân đánh nhiều cái vào vùng mặt, vùng đầu, vào người làm ông C té ngã thì có thể gây ra các tổn thương trên”.

[1.2] Ngày 08/3/2024, V tại thành phố Hồ Chí Minh ra Kết luận giám định lại số 59/KLTTCT-PVPYQG xác định: Tỷ lệ 1%. Các tổn thương giập tuỷ cổ tầng C4-5, thoát vị đĩa đệm tầng C4-5, C5-6 đã phẫu thuật thay đĩa đệm nhân tạo: do không xác định được chính xác thời điểm chấn thương gây ra các tổn thương này nên không đủ cơ sở để xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

[1.3] Theo kết luận giám định số 352/KLTTCT-PYPY ngày 22/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: chị Dương Thị Thanh N1 bị thương tích tỷ lệ 03%, do vật tày tác động. Trung tâm pháp y tỉnh P đã có văn bản số 109/CVGĐ-PYPY ngày 18/10/2023 trả lời: “………Tình trạng đốt sống cổ của nạn nhân N1 là bệnh lý thoái hoá các đốt sống C4C5C6, gây trượt C4, làm hẹp ngách bên bên trái và ép rễ thần kinh C5 trái. Do đó, không đánh giá tỷ lệ cho phần này...”.

[1.4] Nội dung xác minh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh P tại thời điểm ngày 08/8/2023 đến ngày 11/8/2023 thì bị hại C không tiến hành chụp MRI, phù hợp lời khai của bị hại C. Thời gian vào điều trị tại bệnh viện của bị hại C do thương tích từ ngày 08/8/2023 đến 11/8/2023, không ghi nhận tổn thương vùng cổ. Tại thời điểm khám giám định vào ngày 30/8/2023, tại mục 1.2 Khám thương tích các bộ phận có ghi nhận: “Bệnh nhân xoay gập cổ bình thường”. Thời gian vào viện của bị hại C tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P từ ngày 16/10/2023 đến ngày 18/10/2023 thì chuyển bệnh viện C1 từ ngày 30/10/2023 đến 06/11/2023 tức sau thời điểm bị đánh ngày 08/8/2023 là hơn 2 tháng.

[1.5] Căn cứ hồ sơ bệnh án của bị hại Nhường, biên bản tiến hành xem xét dấu vết trên cơ thể của bị hại Nhường ngày 09/8/2023 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P, biên bản làm việc ngày 11/8/2023 tại Công an P, thành phố T kèm bản ảnh thương tích của bị hại N1 thì không thấy có mô tả dấu vết tổn thương ở vùng cổ.

[1.6] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, hội đồng xét xử thấy: việc các bị hại cho rằng hành vi của bị cáo đã gây cho các bị hại tổn thương đốt sống cổ, gây phù nề, phẩu thuật thay đĩa đệm và các bị hại kháng cáo yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích là không có cơ sở chấp nhận.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 08/8/2023, tại số nhà A, đường N, Phường D, thành phố T, các bị cáo Mai Đ, Phạm Nhật B đã có hành vi dùng tay, chân đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu, mặt, ngực và bụng của bị hại Vũ Văn C gây thương tích, tỷ lệ 3%; bị cáo Đ đã dùng chân đá vào phần hông của bị hại Dương Thị Thanh N1 gây thương tích, tỷ lệ 3%. Tuy thương tích của bị hại dưới 11%, giữa các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì nhưng các bị cáo gây thương tích cho các bị hại, thể hiện tính côn đồ nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm i, Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Phạm Nhật B tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo. Do đó, hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 BLTTHS, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bị cáo Phạm Nhật B.

[4] Xét đơn rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Phạm Nhật B của các bị hại Vũ Văn C, Dương Thị Thanh N1; Hội đồng xét xử xét thấy: các bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Phạm Nhật B là hoàn toàn tự nguyện, không ai cưỡng bức, ép buộc nên căn cứ Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự – Hủy một phần bản án sơ thẩm số: 102/2024/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (phần trách nhiệm hình sự và án phí hình sự sơ thẩm) đối với Phạm Nhật B và Đình chỉ một phần vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 95/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đối với bị cáo Phạm Nhật B. Lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu; không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, nên bị cáo Phạm Nhật B không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

[5] Xét kháng cáo của các bị hại Vũ Văn C, Dương Thị Thanh N1, hội đồng xét xử thấy:

[5.1] Đối với kháng cáo về phần trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo Mai Đ nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại trái pháp luật, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo Mai Đ được hưởng để xử phạt bị cáo Mai Đ 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị hại.

[5.2] Đối với kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự: Trên cơ sở yêu cầu của các bị hại, xem xét các chứng từ hợp lệ, chi phí hợp lý; Bản án sơ thẩm đã tính đúng, tính đủ các khoản thiệt hại phù hợp quy định pháp luật nên buộc bị cáo Mai Đ phải bồi thường cho bị hại Vũ Văn C số tiền 13.030.611 đồng và bị hại Dương Thị Thanh N1 số tiền 8.071.447 đồng. Tổng cộng bị cáo Đ phải bồi thường 21.102.058 đồng. Bị cáo đã bồi thường 5.000.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường 16.102.058 đồng. Do đó, không có cơ sơ chấp nhận kháng cáo của các bị hại.

[6] Các bị cáo Mai Đ, Phạm Nhật B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

[8] Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên tiến hành lập thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Nhật B về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Khoản 2 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bị cáo Phạm Nhật B;
  2. Căn cứ Khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự; Hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2024/HS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (phần trách nhiệm hình sự, án phí hình sự sơ thẩm) đối với bị cáo Phạm Nhật B và đình chỉ một phần vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 95/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đối với bị cáo Phạm Nhật B bị cấp sơ thẩm truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.
  3. Việc hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án (đối với bị cáo Phạm Nhật B) là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu; không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, nên bị cáo Phạm Nhật B không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
  4. Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của các bị hại Vũ Văn C, Dương Thị Thanh N1 đối với bị cáo Mai Đ – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

    Tuyên bố: Bị cáo Mai Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

    4.1. Về hình phạt: Áp dụng điểm i, Khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS;

    Xử phạt: Bị cáo Mai Đ - 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/12/2023;

    4.2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự;

    Buộc bị cáo Mai Đ phải bồi thường cho bị hại Vũ Văn C số tiền 13.030.611 đồng và bị hại Dương Thị Thanh N1 số tiền 8.071.447 đồng. Tổng cộng bị cáo Đ phải bồi thường 21.102.058 đồng. Bị cáo đã bồi thường 5.000.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường 16.102.058 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người có nghĩa vụ chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và phần nghĩa vụ chưa thi hành.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Vợ chồng bị hại Vũ Văn C và Dương Thị Thanh N1 được nhận số tiền 5.000.000 đồng do bị cáo Mai Đông N2 khắc phục tại biên lai thu tiền số 0001009 ngày 05/03/2024 và số tiền 21.102.058 đồng do bị cáo Phạm Nhật B nộp tại các Biên lai thu tiền số 0001005 ngày 29/02/2024; 0001198 ngày 03/10/2024 của Chi cục THADS thành phố T, tỉnh Phú Yên.
  6. Về án phí: Các bị cáo Mai Đ, Phạm Nhật B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  7. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Phú Yên tiến hành lập thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Nhật B về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
  8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - VKSND cấp cao ĐN (1);
  • - TAND thành phố Tuy Hoà (2);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - VKSND TP. Tuy Hoà (1);
  • - Sở tư pháp (1);
  • - Chi cục THA thành phố Tuy Hoà;
  • - Người tham gia tố tụng (1);
  • - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 22/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Đ và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger