Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 28-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lâm Thúy Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Trần Văn Tèo

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Võ Tấn D, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1989 tại Tây Ninh; nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L và bà Nguyễn Thị Y (đã chết); bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo bản án số 54/2018/HS-ST ngày 29/6/2028, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2021, án phí hình sự ngày 24/9/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Trung D1, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1981 tại Phú Thọ; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre; chỗ ở hiện nay: Tổ A, Nguyễn Thị C, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu T và bà Chu Thị T1; bị cáo có vợ và 03 người con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 16/6/2010, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 197/2010/HSST ngày 16/6/2010, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2015, án phí hình sự ngày 24/02/2011, án phí dân sự ngày 11/5/2011, đã bồi thường dân sự số tiền 36.876.000 đồng và ngày 13/3/2012 bị hại có đơn yêu cầu đình chỉ thi hành án phần bồi thường dân sự còn lại.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty TNHH G; địa chỉ: Lô S, C2, C3, C5, C6, Đường N, Khu công nghiệp T thuộc Khu K, ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh

Đại diện theo pháp luật của Công ty: ông Lee B – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: ông Yao Wen Y1 – Phó tổng giám đốc “vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2024, Võ Tấn D là tài xế xe nâng, bộ phận kho thành phẩm của Công ty TNHH G, Khu Công nghiệp T thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh và Lê Trung D1 tài xế xe tải chở hàng của Công ty TNHH H, địa chỉ số E, Nguyễn Thị Đ, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh quen biết nhau khi giao nhận hàng giữa hai Công ty trên. Do cần tiền tiêu xài nên vào ngày 26/11/2024, biết Trung D1 sẽ đến Công ty của Tấn D để nhận hàng vào ngày 27/11/2024 theo hợp đồng, khi Trung D1 gọi điện thoại, Tấn D chủ động bàn bạc với Trung D1 về việc lén lút lấy trộm tài sản là kiện hàng xơ Polyester (dạng xơ bông gòn) để mang ra bên ngoài Công ty bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, thì Trung D1 đồng ý.

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/11/2024, chị Trần Thị C1, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã L, huyện B Trợ lý kho của Công ty TNHH G đến gặp và bàn giao thủ tục xuất kho đối với 38 kiện hàng xơ P giao cho Tấn D và tài xế của Công ty TNHH H là Trung Dũng rồi chị C1 đi làm việc khác. Lúc này, Tấn D sau khi điều khiển xe nâng chất xong 38 kiện hàng nêu trên lên xe ô tô tải biển số 61H1 – 138.44 của Trung Dũng như đã thỏa thuận, bàn bạc trước đó, Tấn D tiếp tục dùng xe nâng lấy thêm 18 kiện hàng xơ Polyester chất lên xe cho Trung D1 chở đi ra khỏi Công ty TNHH G. Trung Dũng điều khiển xe đi giao 38 kiện hàng cho Công ty TNHH H thì mang 18 kiện hàng trộm được đến khu vực xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho một người đàn ông tên P1 (Không xác định được nhân thân, lai lịch) được số tiền là 45.000.000 đồng. Sau đó, Trung D1 chia cho Tấn D số tiền 23.400.000 đồng; tuy nhiên Trung Dũng mới chuyển khoản vào số tài khoản 0946710038 ngân hàng V cho Tấn D số tiền 20.400.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng hẹn khi gặp sẽ đưa sau cho Tấn D.

Đến ngày 06/12/2024, chị Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1998, ngụ khu phố C, thị trấn B, huyện B thủ kho thành phẩm và chị Ngô Thị Ngọc C2, sinh năm 1990, ngụ khu phố B, thị trấn B, huyện B trợ lý xưởng kiểm tra kho, kiểm tra camera phát hiện vào ngày 27/11/2024 bị mất trộm 18 kiện xơ Polyester nên báo Giám đốc công ty. Ngày 12/12/2024, Công ty TNHH G có đơn tố cáo vụ việc đến Công an huyện B. Tại Cơ quan điều tra, Võ Tấn D và Lê Trung D1 thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTTTHS ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 18 (mười tám) kiện xơ Polyester tổng hợp tái sinh màu trắng, chưa chải thô, chưa chải kỹ, độ dài 64mm, độ mảnh 1.4D, hàng mới 100%, trọng lượng 4.784,5 kg tại thời điểm ngày 27/11/2024 trị giá 96.321.554 đồng.

* Tài liệu, đồ vật thu giữ:

  • - 01 (một) điện thoại di động, màu den, hiệu S 7+, số seri R58JC06NMYZ, số IMEI: 352808091480905, máy bị nứt màn hình (đã qua sử dụng);
  • - 01 (một) diện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, số IMEI: 35727909709189, chứa sim điện thoại số 0946.710.xxx có số seri (898402000), (đã qua sử dụng).

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSBC ngày 27 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Võ Tấn D và Lê Trung D1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Tấn D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trung D1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo không có tài sản. Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận các bị cáo đã bồi thường xong nên không xem xét.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo Võ Tấn D: bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để bị cáo có mức hình phạt nhẹ, sớm về với gia đình.

Bị cáo Lê Trung D1: bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: ngày 26/11/2024 các bị cáo liên hệ trước để bàn bạc về trộm tài sản trong quá trình làm việc cho Công ty. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/11/2024, tại Công ty TNHH G, Khu Công nghiệp T thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Võ Tấn D lén lút lấy trộm 18 kiện hàng xơ Polyester của Công ty, trị giá 96.321.554 đồng để Lê Trung D1 chở ra khỏi Công ty đi bán. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã có sự bàn bạc, phân công vai trò của từng người. Do đó, có căn cứ xác định bị cáo Võ Tấn D và Lê Trung D1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

[4] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần có hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên các bị cáo có nhân thân xấu.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Võ Tấn D có mẹ ruột có công với cách mạng, bị cáo Lê Trung D1 có cha ruột có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Phân hóa vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo: các bị cáo đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò ngang nhau, phải chịu mức hình phạt tương đương nhau.

[8] Biện pháp tư pháp:

[8.1] Về bồi thường thiệt hại: ghi nhận các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 95.197.197 đồng, trong đó: Võ Tấn D bồi thường số tiền 50.197.197 đồng, Lê Trung D1 bồi thường số tiền 45.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

[8.2] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 (một) điện thoại di động, màu den, hiệu S 7+, số seri R58JC06NMYZ, số IMEI: 352808091480905, máy bị nứt màn hình (đã qua sử dụng) và 01 (một) diện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, số IMEI: 35727909709189, chứa sim điện thoại số 0946.710.xxx có số seri (898402000), (đã qua sử dụng): là tài sản các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[10] Đối với người đàn ông tên P1 tiêu thụ tài sản do Võ Tấn D và Lê Trung D1 phạm tội mà có, do không rõ nhân thân, lai lịch, chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.

[11] Đối với ông Hồ Văn Q là chủ xe ô tô tải biển số 61H1 – 138.44 không biết Lê Trung D1 sử dụng để chở hàng trộm cắp nên không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Võ Tấn D 02 (hai) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2024.
  2. Căn cứ vào điểm a,c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Trung D1 02 (hai) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2024.
  3. Biện pháp tư pháp:

    3.1 Về bồi thường thiệt hại: ghi nhận các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 95.197.197 đồng (chín mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn một trăm chín mươi bảy đồng). Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

    3.2 Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, màu den, hiệu S 7+, số seri R58JC06NMYZ, số IMEI: 352808091480905, máy bị nứt màn hình (đã qua sử dụng) và 01 (một) diện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, số IMEI: 35727909709189, chứa sim điện thoại số 0946.710.xxx có số seri 898402000 (đã qua sử dụng).

    (Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu).

  4. Về án phí:

    Bị cáo Võ Tấn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Lê Trung D1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại do vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi Cục THADS huyện Bến Cầu;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - UBND xã;
  • - Bộ phận thi hành án;
  • - Lưu: Hồ sơ, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thúy Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger