Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

THÀNH PHỐ H

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 27 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Hồ Thế Vinh.
  2. Ông Nguyễn Văn Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên bị cáo: Nguyễn Thị T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964 tại thành phố H; Căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 01/9/202; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã P, huyện P, thành phố H; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn K (đã chết), con bà Nguyễn Thị C (đã chết), có chồng: Lê Đình C1, sinh năm 1961, có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1997.
  2. Tiền án: Không;

    Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 30/01/2024, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc” (Quyết định số: 72/QĐ-XPHC, ngày 30/01/2024). Đến nay bị can chưa chấp hành nộp phạt.

    Qúa trình nhân thân:

    • Ngày 03/5/2018, bị Toà án nhân dân thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 26/2018/HS-ST, ngày 03/5/2018). Đã chấp hành xong hình phạt chính và hình phạt bổ sung của bản án.
    • Ngày 05/11/2019, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) xử phạt 09 tháng tù, về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 161/2019/HS-PT, ngày 05/11/2019). Đã chấp hành xong hình phạt chính và hình phạt bổ sung của bản án.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 18/3/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên bị cáo: Lê Thị H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1967 tại thành phố H; Căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/4/2023; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã P, huyện P, thành phố H; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hoá (học vấn): 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình L (đã chết), con bà Nguyễn Thị T1 (đã chết), có chồng: Hoàng Văn T2, (đã chết), có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2000.
  4. Tiền án: 01 tiền án: Ngày 06/11/2019, bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) xử phạt 01 năm 04 tháng tù, về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 162/2019/HS - PT, ngày 06/11/2019), phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng. Đến nay bị can chưa chấp hành hình phạt bổ sung 10.000.000 đồng.

    Tiền sự: Không

    Qúa trình nhân thân:

    • Ngày 03/5/2018, bị Toà án nhân dân thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 26/2018/HS-ST, ngày 03/5/2018). Đã chấp hành xong hình phạt chính và hình phạt bổ sung của bản án.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 18/3/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị H: Bà Nguyễn Thị B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Địa chỉ: I T, phường P, quận T, thành phố H, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Đình T3, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Vắng mặt.
  2. Ông Lê Đình T4, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện P, thành phố H; Có mặt.
  3. Bà Dương Thị V, sinh năm 1971. Địa chỉ: TDP X, phường T, quận T, thành phố H; Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Đình C2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện P, thành phố H; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 31/12/2024, Nguyễn Thị T, Lê Thị H, Lê Đình T4 cùng trú tại xã P, huyện P, thành phố H; Dương Thị V, trú tại tổ dân phố X, phường T, quận T, thành phố H và Phạm Đình T3, trú tại ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước đến dự đám tang tại nhà ông Lê Đình C2, ở thôn X, xã P, huyện P, thành phố H. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày T5, H, T4, T3 và V rủ nhau sang nhà thờ phái họ Lê ở bên cạnh nhà ông Lê Đình C2 đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền.

Cách thức đánh bạc như sau: Từ lá bài tú lơ khơ cắt thành 04 hột vị tròn để lên một cái đĩa rồi dùng một cái chén úp lại. Khi người làm cái xóc đĩa thì người chơi đặt cược tiền vào các mặt chẵn hoặc lẻ, mỗi ván đặt cược từ 10.000 đồng - 30.000 đồng. Người làm cái dỡ chén ra nếu bốn hột vị có ba mặt giống nhau (ba đen hoặc ba trắng) thì người cược lẻ thắng. Nếu hột vị có hai mặt trùng nhau (hai đen, hai trắng) hoặc bốn mặt trùng nhau (bốn đen, bốn trắng) thì người đặt chẵn thắng, tỉ lệ thắng cược là 1:1. Sau khi mở chén thì người làm cái sẽ lấy tiền của bên thua trả cho bên thắng nếu không đủ thì bỏ tiền của mình ra trả, nếu thừa thì đây là tiền thắng bạc của người làm cái. Quá trình đánh bạc Phạm Đình Thế là người làm cái xóc đĩa cho những người còn lại đặt cược.

Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an xã P, huyện P, thành phố H phát hiện, lập biên bản và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Quá trình điều tra đã xác định tiền các bị cáo và các đối tượng trên sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

  • + Nguyễn Thị T: sử dụng số tiền 280.000 đồng đánh bạc và thắng được 30.000 đồng.
  • + Lê Thị H: sử dụng số tiền 400.000 đồng đánh bạc và bị thua 30.000 đồng.
  • + Phạm Đình T6: sử dụng số tiền 750.000 đồng đánh bạc và bị thua 60.000 đồng.
  • + Nguyễn Đình T7: sử dụng số tiền 220.000 đồng đánh bạc và bị thua 90.000 đồng.
  • + Dương Thị V: sử dụng số tiền 770.000 đồng đánh bạc và thắng số tiền 150.000 đồng.

Tổng số tiền được sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 2.420.000 đồng (hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).

Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đang tạm giữ gồm:

  • + Số tiền 2.420.000 đồng (hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
  • + 01 cái đĩa bằng sứ màu trắng, đường kính 20cm;
  • + 01 cái bát bằng sứ màu trắng, đường kính 10cm;
  • + 04 con vị (cắt từ lá bài tú lơ khơ) hình tròn, đường kính 02cm;
  • + 02 chiếc chiếu cói màu vàng, kích thước 1,6m x 02m

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSPV ngày 03 tháng 6 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố Nguyễn Thị T và Lê Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt:

  • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị H từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng:

Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 2.420.000 đồng. Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 cái đĩa bằng sứ màu trắng, đường kính 20cm; 01 cái bát bằng sứ màu trắng, đường kính 10cm; 04 con vị (cắt từ lá bài tú lơ khơ) hình tròn, đường kính 02cm; 02 chiếc chiếu cói màu vàng, kích thước 1,6m x 02m.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T được miễn vì là người cao tuổi, bị cáo H được miễn vì thuộc hộ nghèo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng mong Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đã ăn năn hối cải, mong muốn làm lại cuộc đời.

Tại phiên tòa, Người bào chữa của bị cáo Lê Thị H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo H 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chồng chết bị cáo phải một mình nuôi con bị thương tích 99% do tai nạn giao thông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện Phú Vang trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 31/12/2024, tại nhà thờ phái họ Lê thuộc thôn X, xã P, huyện P, thành phố H, Nguyễn Thị T và Lê Thị H cùng với một số đối tượng khác đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền, do Phạm Đình T3 làm cái. Tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 2.420.000 đồng. Trong đó, bị cáo T sử dụng 280.000 đồng và thắng 30.000 đồng, bị cáo H sử dụng 400.000 đồng và thua 30.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Thị T và Lê Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng các bị cáo đều là người đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi này mà chưa được xóa án tích. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc, thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn cố tình thực hiện. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là hành vi xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Tội phạm mà các bị cáo thực hiện là tội ít nghiêm trọng, nhưng diễn ra trong thời điểm ban đêm, tại nơi có đám tang, thể hiện sự coi thường pháp luật, thể hiện mong muốn thu lợi bất chính thông qua trò chơi may rủi. Các bị cáo Nguyễn Thị T và Lê Thị H cùng thực hiện hành vi phạm tội vào một thời điểm nhưng không có sự phân công, cấu kết hay hỗ trợ nhau thực hiện hành vi mà phạm tội một cách độc lập, tự tham gia, tự cá cược. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét vai trò đồng phạm của các bị cáo.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị T là người đã từng 02 lần bị kết án về tội “Đánh bạc” và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính cũng về hành vi này, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội. Bị cáo Lê Thị H có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” (bản án năm 2019), chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung. Các bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm.

Cả hai bị cáo đều không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo mang tính bộc phát, ít nghiêm trọng, số tiền dùng để đánh bạc của mỗi bị cáo rất nhỏ. Ngoài ra, quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo Lê Thị H cung cấp tài liệu chứng minh con trai út của bị cáo là Hoàng Cao T8 bị tai nạn giao thông, tỷ lệ thương tật 99%, mất khả năng lao động, cần có người chăm sóc. Bị cáo H chỉ một mình nuôi con, chồng mất sớm. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy Bị cáo H có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, là lao động chính nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo H.

[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị T là người cao tuổi, bị cáo H thì gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Lần phạm tội này các bị cáo đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng vì các bị cáo có tiền sự, tiền án nên mới phạm tội. Hành vi của các bị cáo ít nghiêm trọng, các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe và giáo dục như đề nghị của Kiểm sát Viên và trợ giúp viên pháp lý tại phiên tòa. Tuy nhiên cũng phải có hình phạt bổ sung là hình phạt tiền để các bị cáo lấy đó làm bài học để không tiếp tục phạm tội.

Do các bị cáo không có thu nhập ổn định nên căn cứ điểm a khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo là có cơ sở.

[8] Đối với hành vi đánh bạc của Phạm Đình T3, Lê Đình T4 và Dương Thị V đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an xã P, huyện P, thành phố H để xử phạt vi phạm hành chính đối với T3, T4 và V theo quy định.

[9] Về xử lý vật chứng:

Số tiền 2.420.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Các vật chứng gồm: 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 20 cm; 01 cái bát sứ màu trắng, đường kính 10 cm; 04 con vị (cắt từ lá bài tú lơ khơ) hình tròn, đường kính 02 cm; 02 chiếc chiếu cói màu vàng, kích thước 1,6m x 2m. Xét thấy đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T được miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người cao tuổi. Bị cáo Lê Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm vì thuộc hộ nghèo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    1. Đối với bị cáo Nguyễn Thị T: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng.
    2. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị T.

    3. Đối với bị cáo Lê Thị H: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng.
    4. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Thị H.

  3. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Nguyễn Thị T và Lê Thị H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
  4. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 2.420.000 đồng (Hai triệu bốn trăm hai mươi ngàn đồng). Hiện đang được tạm giữ tại tài khoản 39490105409100000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang, tại Ngân hàng TMCP C3- Chi nhánh H1 theo phiếu hoạch toán tiền mặt ngày 18/6/2025.
    • - Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 20 cm; 01 cái bát sứ màu trắng, đường kính 10 cm; 04 con vị (cắt từ lá bài tú lơ khơ) hình tròn, đường kính 02 cm; 02 chiếc chiếu cói màu vàng, kích thước 1,6m x 2m có đặc điểm như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 18 tháng 6 năm 22025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
  6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị H mỗi người 200.000 đồng.
  7. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố H;
  • - VKSND thành phố H;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ
  • Công an thành phố H;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố H;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Công an, ủy ban nhân dân xã P;
  • - Các bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA, HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về tội đánh bạc

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger