Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Tỵ và bà Nguyễn Thị Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc Uyên T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 29/5/2000, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số B đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn V, sinh năm 1969 và bà Đỗ Thị Thùy T1, sinh năm 1976; có chồng là Nguyễn Quốc T2sinh năm 1987 (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Có mặt.

+ Bị hại: Chị Vy Hồng D, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, Trần Ngọc U anh Huỳnh Phạm Thanh S năm 1994, nơi cư trú: số nhà A, đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đến quán của chị Vy Hồng D1 năm 1983 ở địa chỉ: đường Q, tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồngđể uống rượu cùng với một số người khác. Trong lúc đang ngồi nhậu, T2 vào trong quán nói chuyện với chị D2 phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro của chị D3 trên mặt bàn nên nảy sinh ý định trộm cắp. Để thực hiện ý định, T3 vờ nói chuyện với chị D3 lợi dụng lúc chị D4 để ý thì T4 cắp chiếc điện thoại trên rồi giấu vào trong túi sách mà Tđeo trên người. Tđi vào nhà vệ sinh đóng cửa lại và mở mật khẩu màn hình điện thoại của chị D5 “000000” (do trước đây Tthấy chị D6 mật khẩu này để mở khóa màn hình). Sau khi mở được màn hình, T5 nguồn điện thoại rồi cất giấu vào trong túi của TTđi ra bàn nhậu ở bên ngoài ngồi một lúc rồi về phòng trọ của mình. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 20/6/2024 thì T6 điện thoại vừa trộm cắp được cho T7(không rõ nhân thân, lai lịch) cất giữ. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/6/2024, anh Nguyễn Thanh H1 chồng của chị D7 điện thoại hỏi T8 lấy chiếc điện thoại của chị D4 thì T9 không lấy. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, anh H2 tục gọi điện vào số điện thoại của chị D8 gắn trong chiếc điện thoại mà Ttrộm cắp nhưng không ai nghe máy. Lúc này, anh H3 tin vào số điện thoại của chị D9 nội dung “Điện thoại này của tôi vừa bị ăn cắp, anh em nào sửa chữa hay nhận mua lại điện thoại này từ một người nào đó thì hãy liên hệ với tôi qua số điện thoại 0839.707.xxx xin cám ơn và hậu tạ”. Mội lúc sau, anh H4 được tin nhắn từ số điện thoại của chị D9 nội dung: “Thế bây giờ chuộc hay bán xác phá máy đây anh” đồng thời người này yêu cầu anh H5 số tiền 2.700.000 đồng để xin chuộc lại điện thoại. Tuy nhiên, do anh H6 biết ai đang nhắn tin với mình nên không chuyển khoản số tiền trên, sau đó anh H7 lạc lại số điện thoại của chị D10 không được. Đến ngày 23/6/2024 chị Vy Hồng D11 Công an phường Bthành phố Btrình báo sự việc.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bxác định: điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro 128 GB của chị D12 giá trị là 19.493.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 25/CT-VKSBL, ngày 17 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Ngọc U1 T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc U1 T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Ngọc U2 từ 12 đến 15 tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Sau khi trộm cắp điện thoại của chị D thì T10 đưa cho đối tượng T3Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B chưa làm việc được với T3nên không thu hồi được điện thoại.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo T10 bồi thường cho bị hại là chị Vy Hồng D số tiền 15.000.000 đồng. Chị D4 yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và viết đơn bãi nại cho bị cáo.

+ Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.

+ Bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo ngoài xã hội để còn nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Trần Ngọc Uyên T đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 19/6/2024, tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm ĐồngTrần Ngọc Uyên T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro 128 GB của chị Vy Hồng D trị giá 19.493.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường kỷ cương pháp luật, do lười lao động, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội ở địa phương và an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng nên không cần thiết phải bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giáo dục là phù hợp. Vì vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo cũng đủ răn đe, phòng ngừa.

[8] Phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên miễn phạt bổ sung.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Sau khi trộm cắp điện thoại của chị D thì T10 đưa cho đối tượng T3. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B chưa làm việc được với T3 nên không thu hồi được điện thoại.

[10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại là chị Vy Hồng D số tiền 15.000.000 đồng. Chị D4 yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và viết đơn bãi nại cho bị cáo.

[11] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc U1 T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Ngọc U2 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thủ thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Ngọc U2 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án hình sự được thực hiện theo Luật Thi hành án Hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự”.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Ngọc U1 T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đã giải thích chế định án treo.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T trôm Iphone
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger