TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 25-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- 2. Ông Danh Út Nhỏ.
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc, Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Trường G, sinh ngày 01/01/1981; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...]; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang V và bà Lê Thị B, vợ là Nguyễn Ánh S; anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1983. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 17/12/2024 chuyển sang tạm giam cho đến ngày 13/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay, có mặt.
- Họ và tên: Võ Văn K, sinh ngày 01/01/1987; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Nơi tạm trú: ấp F, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; CCCD: [...], nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị C1, vợ là Phù Thị P và 02 con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 17/12/2024 chuyển sang tạm giam cho đến ngày 13/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay, có mặt.
- Họ và tên: Kha L, sinh ngày 01/01/1978; nơi sinh: G - Kiên Giang . Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...]; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kha T và bà Thị Đ, vợ là Thị D và 02 con; lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 17/12/2024 chuyển sang tạm giam cho đến ngày 13/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay, có mặt.
- Họ và tên: Đỗ Thành V1, sinh ngày 01/01/1995; nơi sinh: V - Kiên Giang. Nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; CCCD: 09109500387, nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thành Đ1 và bà Võ Đông H, vợ là Ngô Thị S1 và 01 con sinh năm 2015. Tiền án: Không, tiền sự: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 17/12/2024 chuyển sang tạm giam cho đến ngày 13/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay, có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Hồng C2, sinh ngày 27/12/1992; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Thị H1, chồng là Nguyễn Ngọc Ả và 03 con; lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án: Không, tiền sự: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2024, đến ngày 17/12/2024 chuyển sang tạm giam cho đến ngày 13/3/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay, có mặt.
- Họ và tên: Ngô Thị S1 (tên gọi khác: N), sinh ngày 11/11/1984; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M và bà Lý Thị D1, chồng là Đỗ Thành V1 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 34 ngày 07/5/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.
- Họ và tên: Thị Hường, sinh ngày 11/11/1955; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh T1 và bà Bùi Thị N1, chồng là Nguyễn Văn L1 và 04 con, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 36 ngày 07/5/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.
- Họ và tên: Đỗ Thị T2, sinh ngày 14/4/1984; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N2 (đã chết) và bà Ngô Thị D2, chồng là Nguyễn Hoàng E và 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 35 ngày 07/5/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.
- Họ và tên: Võ Kim C3, sinh ngày 01/01/1980; nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: tổ 1, ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD: [...], nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn M1 (đã chết) và bà Trần Thị Đ2, chồng là Danh V2 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2004. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 33 ngày 07/5/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trương Thị Tú T3, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
- Bà Dương Thị T4, sinh năm 1962. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Minh H2, sinh năm 1972. Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 40 phút ngày 14 tháng 12 năm 2024 lực lượng Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang tiến hành bắt quả tang Nguyễn Trường G, K, Đỗ Thành V1, Võ Văn K, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3 và Ngô Thị S1 đang thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức bài ngầu hầm tại nhà của đối tượng Thị H1 thuộc ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Tại hiện trường lực lượng Công an thu giữ tiền VNĐ là 200.000 đồng; 49 (bốn mươi chín) lá bài tây đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tây chưa qua khui hộp; 01 (một) chiếc chiếu lát màu xám, viền đỏ có kích thước 0,9m x 1,8m. Kiểm tra trên người các đối tượng tạm giữ tổng số tiền là 29.096.000 đồng; 06 điện thoại di động và 03 xe máy các loại. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ các đồ vật trên.
Trong quá trình điều tra xác định vào khoảng 14 giờ 00 ngày 14 tháng 12 năm 2024, Nguyễn Trường G, Kha L, Đỗ Thành V1, Võ Văn K, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3 và Ngô Thị S1 đến nhà của bà Thị H1 tại Ấp P, xã V, huyện G tham gia đánh bạc bằng hình thức bài ngầu hầm ăn thua bằng tiền. Cách thức chơi là nhà cái sẽ chia cho các tụ đặt mỗi người 05 lá bài, sau đó sắp xếp lại nếu cộng 03 lá bài lại được tròn điểm 10, 20, 30 là có ngầu, còn 02 lá bài kia là tính điểm cao thấp, nếu có ngầu rồi và cộng 02 lá bài kia được tròn 10, 20 thì gọi sụp hầm là điểm cao nhất. Trường hợp cộng 03 lá bài lại không được điểm tròn 10, 20, 30 thì gọi là không có ngầu (mậu). Lúc này người nào không có ngầu sẽ huề với nhau, còn người nào có ngầu thì ăn người không có ngầu và người nào ngầu cao sẽ thắng ngầu thấp. Các người còn lại như Đỗ Thị T2 đặt tụ và hùn tiền với Nguyễn Trường G để làm cái, Võ Kim C3 bắt có với cái (cái lời thì người bắt lời, cái lỗ thì người bắt lỗ); Nguyễn Hồng C2 bắt có cái và thu tiền sâu bài; Ngô Thị S1 đặt tụ và cung cấp tiền cho chồng là bị cáo Đỗ Thành V1 làm cái; bị cáo Kha L vừa làm cái vừa đặt tụ; bị cáo Nguyễn Trường G vừa làm cái vừa đặt tụ; bị cáo Võ Văn K vừa làm cái vừa đặt tụ; bị cáo Đỗ Thành V1 vừa làm cái vừa đặt tụ; bị cáo Thị H1 cung cấp các dụng đánh bạc như bài tây, chiếu lát, địa điểm. Mức đặt tiền của các người tham gia đánh bạc ít nhất là 50.000 đồng cao nhất là 200.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ trên người các con bạc và trên chiếu bạc là 29.096.000 đồng. Tổng số tiền các con bạc tham gia đánh bạc vào ngày 14/12/2024 là 10.900.000 đồng.
Tại hiện trường lực lượng Công an thu giữ tại nơi đánh bạc gồm tiền VNĐ là 200.000 đồng; 49 (bốn mươi chín) lá bài tây đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tây chưa qua khui hộp; 01 (một) chiếc chiếu lát màu xám, viền đỏ có kích thước 0,9m x 1,8m. Kiểm tra trên người các đối tượng tạm giữ tổng số tiền là 29.096.000 đồng; 06 (sáu) điện thoại di động và 03 (ba) xe máy các loại.
Trong quá trình điều tra xác định các đồ vật không phải là vật chứng vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành trao trả theo quy định của pháp luật: Trả cho bị cáo Nguyễn Trường G một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS màu xanh đen, biển số 73N9-4252 xe đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21 màu xanh số IMEI: 861428052518413 và trả số tiền không sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.000.000 đồng; Trả cho bị cáo Kha L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đỏ biển kiểm soát : 52N7 – 4521 xe đã qua sử dụng; một điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đỏ số IMEI: 353163112834659; Trả cho bị cáo Đỗ Thành V1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Hoanda Wave RS màu đỏ đen biển kiểm soát: 68U1- 4191 xe đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại Samsung màu hồng số IMEI: 351610267411297/01; số tiền 100.000 đồng; Trả cho bị cáo Ngô Thị S1 một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu xanh số IMEI: 356646101884252/01 và số tiền không sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.586.000 đồng; Trả cho bị cáo Đỗ Thị T2 một điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 màu xanh số IMEI: 358587109877377/01; Trả cho Võ Kim C3 số tiền 740.000 đồng; Trả cho chị Nguyễn Thị N3 một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh số IMEI: 353794102811164/01; số tiền 3.900.000 đồng.
Vật chứng trong vụ án:
- 49 (bốn mươi chín) lá bài tây (đã qua sử dụng);
- 07 (bảy) bộ bài tây chưa qua khui hộp;
- 01 (một) chiếc chiếu lát màu xám, viền đỏ có kích thước 0,9m x 1,8m.
Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Quao.
Số tiền VNĐ 11.220.000đ (trong đó: Thu giữ trên chiếu bạc là 200.000₫ và tiền của các bị cáo mang theo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.020.000₫ (gồm: Của bị cáo Ngô Thị S1 4.200.000đ; Võ Văn K 3.100.000đ; Nguyễn Trường G 300.000đ; Võ Kim C3 600.000đ; Kha Linh 2.500.000 đồng và Thị Hường giao nộp 320.000₫), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 10/4/2025.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSND-GQ, ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trường G, Võ Văn K, Kha L, Đỗ Thành V1, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3, Ngô Thị S1 và Thị H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường G, Võ Văn K, Kha L, Đỗ Thành V1, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3, Ngô Thị S1 và Thị H1 phạm tội “Đánh bạc".
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn K 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Đề nghị xử phạt bị cáo Kha L 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thành V1 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng C2 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Kim C3 hình phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thị T2 hình phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Thị S1 hình phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Thị H1 hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng để đánh bạc và thu lợi bất chính là 11.220.000 đồng theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 10/4/2025;
- Tịch thu tiêu hủy 49 (bốn mươi chín) lá bài tây đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tây chưa qua khui hộp; 01 (một) chiếc chiếu lát màu xám, viền đỏ có kích thước 0,9m x 1,8m là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G; Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T3 và bà T4 vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt những người này nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định các Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Trường G, Võ Văn K, Kha L, Đỗ Thành V1, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3, Ngô Thị S1 và Thị H1 tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 14 tháng 12 năm 2024 tại nhà của T tại Ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G bắt quả tang các bị cáo Nguyễn Trường G, Kha L, Đỗ Thành V1, Võ Văn K, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3 và Ngô Thị S1 đang đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức bài ngầu hầm. Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.900.000đ (Mười triệu chín trăm nghìn đồng). Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Trường G, Võ Văn K, Kha L, Đỗ Thành V1, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3, Ngô Thị S1 và Thị H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, được pháp luật Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tư lợi cá nhân, bất chấp pháp luật các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, hành vi đánh bạc của các bị cáo còn là một tệ nạn xã hội cần xóa bỏ vì nó để lại hậu quả xấu cho xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội khác; với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm, đủ sức răn đe và nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Vai trò của các bị cáo thể hiện như sau: Các bị cáo có sự thống nhất và cùng nhau bàn bạc để thực hiện hành vi phạm tội; Qua trình đánh bạc các bị cáo vừa làm cái và vừa đặt tụ và bắt có với nhà cái; bị cáo Ngô Thị S1 đánh bạc thắng được 3.200.000 đồng, bị cáo Võ Văn K thua hết 300.000 đồng, bị cáo Nguyễn Trường G thua hết 400.000 đồng, bị cáo Đỗ Thị T2 thua hết 150.000 đồng, bị cáo Kha L thắng được 500.000 đồng, Võ Kim C3 và Nguyễn Hồng C2 không ăn không thua, Đỗ Thành V1 lấy tiền của vợ là Ngô Thị S1 chơi nên không rõ ăn thua ra sao, đối với bị cáo Thị H1 không tham gia đặt tụ mà cung cấp bài, chiếu lát và địa điểm cho các con đánh bạc và thu tiền sâu. Do đó cần xét xử từng bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội và theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Thị H1 có chồng là ông Trần Văn L2 là liệt sĩ nên được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo Ngô Thị S1 có cha ruột là ông Ngô Văn M và mẹ ruột bà Lý Thị D1 tham gia kháng chiến được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
Số tiền VNĐ: 11.220.000đồng (trong đó: Thu giữ trên chiếu bạc là 200.000đ và tiền của các bị cáo mang theo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.020.000đ (gồm: Của bị cáo Ngô Thị S1 4.200.000đ; Võ Văn K 3.100.000đ; Nguyễn Trường G 300.000đ; Võ Kim C3 600.000đ; Kha Linh 2.500.000 đồng và Thị H1 giao nộp 320.000₫) là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
49 (bốn mươi chín) lá bài tây đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tây chưa qua khui hộp; 01 (một) chiếc chiếu lát màu xám, viền đỏ có kích thước 0,9m x 1,8m là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với Nguyễn Hoàng E và Nguyễn Thị N3 quá trình điều tra xét thấy vào ngày 14/12/2024 Hoàng E và N3 có mặt tại sòng bạc nhưng không có tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề nghị truy tố.
Đối với Trương Thị Tú T3 và Dương Thị T4 vào ngày 14/12/2024 có tham gia đánh bạc ké tụ 02 bàn nhưng không xác định được ké tụ của ai, sau đó nghỉ đi về khoảng 30 phút sau thì lực lượng Công an đến bắt quả tang tụ điểm đánh bạc. Do không xác định được định lượng số tiền mà T3 và T4 tham gia đánh bạc. Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở xử lý nên đã ra Quyết định tách hành vi của Trương Thị Tú T3, Dương Thị T4 để xử lý hành chính.
[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường G, Võ Văn K, Kha L, Đỗ Thành V1, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3, Ngô Thị S1 và Thị H1 phạm tội “Đánh bạc".
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Xử phạt bị cáo Võ Văn K 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Xử phạt bị cáo Kha L 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thành V1 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng C2 03 (ba) tháng tù bằng với thời hạn tạm giam (từ ngày 14/12/2025 đến ngày 13/3/2025).
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Võ Kim C3 hình phạt tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T2 hình phạt tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Ngô Thị S1 hình phạt tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Thị H1 hình phạt tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền VNĐ 11.220.000đồng (trong đó: Thu giữ trên chiếu bạc là 200.000đ và tiền của các bị cáo mang theo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.020.000đ (gồm: Của bị cáo Ngô Thị S1 4.200.000đ; Võ Văn K 3.100.000đ; Nguyễn Trường G 300.000đ; Võ Kim C3 600.000đ; Kha Linh 2.500.000 đồng và Thị Hường giao nộp 320.000₫), theo giấy nộp tiền vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao ngày 10/4/2025.
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 49 (bốn mươi chín) lá bài tây đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tây chưa qua khui hộp; 01 (một) chiếc chiếu lát màu xám, viền đỏ có kích thước 0,9m x 1,8m.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Buộc các bị cáo Nguyễn Trường G, Võ Văn K, Kha L, Đỗ Thành V1, Nguyễn Hồng C2, Đỗ Thị T2, Võ Kim C3, Ngô Thị S1 và Thị H1, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tôn |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG về đánh bạc (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường Giang và đồng phạm, phạm tội Đánh bạc
