Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 25-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Ngọc Trứ
  2. Ông Lê Văn Tám

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trân Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa ra vụ án xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chung Văn Ý, sinh ngày 15/9/2002, tại tỉnh Tiền Giang.

Tên thường gọi: không.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số B đường V, Khu phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (nay là số A đường V, Khu phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang).

Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 7/12.Giới tính: Nam

Số CCCD: [...], cấp ngày 29/9/2022, Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C.

Con ông Chung Văn T, sinh năm: 1975 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980;

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 02/01/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bùi Thị T1, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp G, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chung Văn T, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (có mặt);

* Người làm chứng:

  1. Võ Minh V, sinh năm 1990 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố A, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  1. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1980 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 15/01/2023, sau khi uống rượu xong, Võ Minh V rủ Nguyễn Văn T2 và Chung Văn Ý đi trộm gà để làm mồi tiếp tục uống rượu thì T2 và Ý đồng ý. Ý giao xe mô tô nhãn hiệu FUTURE màu trắng, biển số 63B2-921.43 để V điều khiển chở T2, Ý ngồi phía sau để đi tìm gà trộm.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, cả ba đến đoạn đường “Nam Cả Chuối” thuộc ấp G, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang thì V nhìn thấy trước sân nhà chị Bùi Thị T1 có dựng 01 chiếc xe mô tô biển số 63B2-448.38, chìa khóa còn gắn trong ổ khóa nên V nảy sinh ý định lấy trộm xe này. V liền rủ T2 và Ý cùng lấy trộm xe thì được cả hai đồng ý nên V đi vào trộm xe, còn T2 và Ý đứng bên ngoài cảnh giới. Sau khi trộm xe, V khởi động máy điều khiển chạy đi được khoảng 500 mét thì bị người dân phát hiện bắt quả tang V cùng xe mô tô biển số 63B2-448.38 giao cho Công an xã T, đến ngày 16/01/2023 Nguyễn Văn T2 bị bắt giữ. Ngày 04/7/2023 Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã xét xử Võ Minh V và Nguyễn Văn T2 về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 44/2023/HS-ST. Riêng Chung Văn Ý sau khi phạm tội đã bỏ trốn đến ngày 24/12/2024 thì bị bắt.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐGTS ngày 17/01/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã C kết luận: Xe mô tô, hiệu Wave biển số 63B2-448.38, màu xám-bạc-đen trị giá là 2.500.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Chung Văn Ý về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa,

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Chung Văn Ý về tội “Trộm cắp tài sản” quy định

tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Chung Văn Ý phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Chung Văn Ý từ 06 đến 09 tháng tù.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời nói sau cùng bị cáo trình bày biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Chung Văn Ý đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 15/01/2023, tại đoạn đường N thuộc Ấp G, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Chung Văn Ý đã có hành vi lén lút lấy trộm của chị Bùi Thị T1 01 xe mô tô, hiệu Wave biển số 63B2-448.38 (thực hiện cùng với Võ Minh V và Nguyễn Văn T2). Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 2.500.000 đồng. Vì vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Chung Văn Ý phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Võ Minh V và Nguyễn Văn T2. Khi thực hiện hành vi phạm tội giữa V, T2 và bị cáo Ý không có sự câu kết chặc chẽ, nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đồng phạm này, Võ Minh V là người khởi xướng việc phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Nguyễn Văn T2 và bị cáo Ý cùng là đồng phạm với vai trò giúp sức. Do đó, tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của V là cao hơn T2 và bị cáo Ý. Mặc dù, cùng là đồng phạm với vai trò giúp sức nhưng Nguyễn Văn T2 có nhân thân xấu vì đã 03 lần bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Ý cần cân nhắc mức hình phạt cho phù hợp với tính chất, mức độ và nhân thân của bị cáo. Ngày 04/7/2023 Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã xét xử Võ Minh V và Nguyễn Văn T2 về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 44/2023/HS-ST.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo Ý đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Xe mô tô hiệu Wave alpha biển số 63B2-448.38 đã thu giữ được Cơ quan điều tra trả cho bị hại trong quá trình điều tra đối với Võ Minh V và Nguyễn Văn T2 trước đó là phù hợp với quy định pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu FUTURE màu trắng, biển số 63B2-921.43 mà bị can Ý cùng Võ Minh V và Nguyễn Văn T2 sử dụng đi trộm tài sản là của ông Chung Văn T cha ruột Ý. Khi Ý sử dụng xe đi trộm thì ông T không biết nên Cơ quan điều tra không thu giữ xe là phù hợp với quy định pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết trong bản án số 44/2023/HS-ST ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt

Tuyên bố bị cáo Chung Văn Ý phạm tội “Trộm cắp tài sản

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Phạt bị cáo Chung Văn Ý 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 24/12/2024.

2. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Chung Văn Ý phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chung Văn T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Bùi Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND Thị xã Cai Lậy;
  • - CQĐT Công an Thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS Thị xã Cai Lậy;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Cẩm Loan

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chung Văn Y - Trộm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger