Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày 26 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với Bị cáo: Trần Đình H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1981 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 28/06/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Trần Đình L, sinh năm 1952; Mẹ đẻ: Lê Thị L1 (đã chết); Vợ: Lê Thị L2, sinh năm 1984; Có 01 con sinh năm 2006; Gia đình có 05 anh em, Bị cáo là con thứ 5; Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lê Ngọc M, sinh năm 1957. Đã chết

Địa chỉ: Thôn Y xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người đại diện hợp pháp của Bị hại:

Chị Lê Thị L3, sinh năm 1990. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Quách Văn Y, sinh năm 1981. Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn Đ xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Ông Lê Duy M1, sinh năm 1960. Vắng mặt
  3. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985. Vắng mặt
    Cùng địa chỉ: Thôn N xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Chị Nguyễn Thị Tân U, sinh năm 1985. Vắng mặt
    Địa chỉ: Số A C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
  5. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988. Vắng mặt
    Địa chỉ: Khu phố V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  6. Chị Lê Thị K, sinh năm 1975. Vắng mặt
    Địa chỉ: Khu phố K, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng 12 giờ 00 ngày 20/11/2024, Trần Đình H (sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) có giấy phép lái xe hạng B2 còn thời hạn, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43C-033.56 chở theo bàn, ghế, quạt đến xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để cho khách thuê tổ chức đám cưới. Sau khi giao các đồ đạc trên cho khách hàng xong, H một mình điều khiển xe ô tô đi từ xã X đến thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Khoảng 13 giờ 20 cùng ngày, khi H đang điều khiển xe ô tô đi trên đường nhựa liên xã (đoạn qua thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa), theo hướng đi từ xã X đến thị trấn S thì phát hiện Lê Ngọc M (sinh năm 1957, trú tại thôn Y, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36K7-2332 chở theo Quách Văn Y (sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) đang đi ở phần đường bên trái và di chuyển ngược chiều với xe ô tô của H; ngoài ra còn có xe mô tô biển kiểm soát 36X1-3592 kéo theo thùng xe tự chế, do ông Lê Duy M1 (sinh năm 1960, trú tại thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) điều khiển, đi ở phía trước và di chuyển cùng chiều với xe ô tô của H. Lúc này, H muốn vượt xe mô tô biển kiểm soát 36X1-3592 nên đã điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường bên trái, dẫn đến mặt trước bên trái Ba-đờ-sốc trước (cách thành xe bên trái 9cm) xe ô tô của H đã đâm va vào mặt lăn, má trái lốp trước và cạnh vành xe mô tô biển kiểm soát 36K7-2332 của ông Lê Ngọc M đang chở theo ông Y, gây tai nạn. Sau khi bị đâm va, ông Lê Ngọc M và ông Y cùng với xe mô tô 36K7-2332 bị ngã, đổ xuống bờ kênh nước cạnh đường. Hậu quả ông Lê Ngọc M bị đa chấn thương dẫn đến tử vong trên đường đi cấp cứu, ông Y bị thương tích phải đi điều trị tại Bệnh viện, hai phương tiện bị hư hỏng.

Ngay sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan CSĐT tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, phương tiện liên quan; Đồng thời phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông, trật tự, cơ động Công an huyện T tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Đình H. Kết quả xác định nồng độ cồn trong hơi thở của H là 0.000 mg/l. Ngày 21/11/2024, Cơ quan CSĐT ban hành công văn số 1382/CV-ĐTTH đề nghị Trung tâm y tế huyện T phối hợp xét nghiệm ma tuý, các chất gây nghiện qua nước tiểu của Trần Đình H. Kết quả: Trần Đình H âm tính với các chất gây nghiện

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với Trần Đình H: Không phát hiện dấu vết thương tích trên cơ thể.

Ngày 20/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tử thi để xác định nguyên nhân chết của ông Lê Ngọc M. Tại kết luận giám định số 4611A/KLGĐTT-PC09 ngày 04/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

- Kết quả khám nghiệm:

  • + Các vết rách da, xây xước da, bầm tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, vai, ngực, bụng, tứ chi.
  • + Gãy 1/3 giữa hai xương cẳng chân trái.
  • + Tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng và mặt sau xương ức.
  • + Gãy thân xương ức. Gãy cung trước xương sườn số 4,5,6 bên phải; gãy cung trước xương sườn 3,4,5,6,7 bên trái.
  • + Nhiều máu không đông tại khoang ngực hai bên và ổ bụng.
  • + Dập, tụ máu tổ chức hai phổi.
  • + Rách bao ngoài tim. Rách tâm nhĩ phải.
  • + Rạn, vỡ gan phải.

- Kết luận: Nguyên nhân chết do đa chấn thương.

Tại bản Kết luận giám định ma túy số 9664/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của V Bộ C2, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và các sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Lê Ngọc M gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định nồng độ cồn trong máu số: 4606/KL-KTHS, ngày 03/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu máu của Lê Ngọc M niêm phong gửi giám định không có cồn.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với Quách Văn Y:

  • - Tại bên phải vùng đầu, sau tai có 01 vết thương rách da, chảy máu kích thước 4x1 cm.
  • - Tại mặt ngoài cánh tay trái có 02 vết thương xây xước da, rớm máu kích thước lần lượt 2x1 cm và 1x0,5 cm.
  • - Tại đầu gối trái có 02 vết thương xây xước da, rớm máu kích thước lần lượt 3x2cm và 1x1 cm.
  • - Tại mặt ngoài cẳng chân phải có 01 vết thương rách da, chảy máu kích thước 4x1 cm.

Ngày 13/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định pháp y thương tích để xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Quách Văn Y. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1132/KL-KTHS ngày 25/02/2025 của V Bộ C2, kết luận:

Căn cứ hồ sơ bệnh án, khám giám định và khám chuyên khoa, xác định Quách Văn Y bị đa chấn thương, đã điều trị. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể:

  • - Sẹo vùng thái dương phải, kích thước nhỏ: 01%.
  • - 02 sẹo mặt sau ngoài cánh tay trái, kích thước nhỏ: mỗi sẹo 01%.
  • - Sẹo vùng cắng chân phải, kích thước trung bình: 02%.
  • - Sẹo phẫu thuật mặt sau - ngoài 1/3 trên đùi trái, kích thước trung bình: 02%.
  • - Sẹo dẫn lưu mặt ngoài 1/3 trên đùi trái, kích thước nhỏ: 01%.
  • - Gãy cung bên xương sườn III, IV bên phải, đang can: mỗi xương sườn 02%.
  • - Gãy cổ xương đùi trái (vị trí chỏm xương đùi trái) không tiêu chỏm, còn phương tiện kết xương: 31%.
  • - Gãy thân xương mác trái, đang can: 03%.
  • - Trật khớp háng trái, kết quả điều trị tốt: 06%.

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quách Văn Y tại thời điểm giám định là 44% (BL: 259 - 264).

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, giám định dấu vết va chạm cơ học xác định:

  • - Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước bên trái Ba-đờ-sốc trước (cách thành xe bên trái 9cm) xe ô tô biển kiểm soát 43C-033.56 với mặt lăn, má trái lốp trước và cạnh vành (tương ứng trên hàng chữ “DRC”) xe mô tô BKS 36K7-2332.
  • - Tại thời điểm xảy ra va chạm, xe ô tô BKS 43C-033.56 chuyển động ngược chiều, chếch từ trái sang phải so với xe mô tô BKS 36K7-2332.
  • - Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt (2) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc chiều đường từ xã X đi xã X, huyện T, Thanh Hóa.
  • - Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm va chạm.
  • - Vị trí xảy ra tai nạn: Đoạn đường xảy ra tai nạn rộng 3,5m, bằng phẳng, được rải nhựa, 2 bên lề đường là lề cỏ đất. Vị trí xảy ra tai nạn được xác định nằm trước đầu vết cà trượt trên lề đường cỏ đất bên trái, cách mép đường bên trái 0,18m theo hướng di chuyển của xe ô tô.

Tiến hành xác minh hệ thống camera an ninh, biển báo hiệu, đèn tín hiệu giao thông đường bộ:

  • - Không phát hiện thấy biển báo hiệu và đèn tín hiệu giao thông đường bộ tại khu vực hiện trường.
  • - Phát hiện và thu giữ 05 file video được lưu giữ trong 04 đĩa DVD-R, ghi nhận nội dung có liên quan đến vụ việc.

Tại Bản kết luận giám định Kỹ thuật số điện tử số 198/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 05 tệp video của 04 đĩa DVD-R gửi giám định; Không xác định được tốc độ của hai phương tiện.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đình H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do H điều khiển xe đi không đúng phần đường và vượt xe không đảm bảo an toàn.

Tra cứu thông tin về giấy phép lái xe của Trần Đình H và Lê Ngọc M tại Sở Giao thông vận tải tỉnh T, kết quả tại Công văn số 7506/SGTVT-QLPT&NL ngày 03/12/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T trả lời: Trần Đình H có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, có giá trị đến ngày 03/8/2028; Lê Ngọc M có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, có giá trị không giới hạn; hiện không tìm thấy thông tin vi phạm của hai giấy phép lái xe trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 17/12/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T định giá phần tài sản bị hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 43C-03356 và xe mô tô biển kiểm soát 36K7-2332 do vụ tai nạn giao thông gây ra, kết luận: Giá trị phần tài sản bị hư hỏng của xe ô tô BKS 43C-033.56 trước khi bị hư hỏng là 11.000.000 đồng; Giá trị phần tài sản bị hư hỏng của xe mô tô BKS 36K7-2332 trước khi bị hư hỏng là 3.890.000 đồng.

Về vi phạm hành chính:

Đối với Trần Đình H có hành vi “Điều khiển xe ô tô ... không mang hoặc không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực; “không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định khi mua”. Hành vi trên đã vi phạm quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP), nên Cơ quan điều tra đề nghị chuyển hồ sơ, tài liệu cùng với giấy phép lái xe ô tô hạng B2 của Trần Đình H, đăng ký xe và giấy chứng nhận kiểm định của ô tô biển kiểm soát 43C-033.56 đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính Trần Đình H theo quy định.

Đối với Lê Ngọc M có hành vi “Người điều khiển xe mô tô ... không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực” là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ và vi phạm hành chính. Tuy nhiên, do Lê Ngọc M đã chết nên không xem xét xử lý.

Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36K7-2332 và giấy phép lái xe mô tô hạng A1 là tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Lê Ngọc M, xe do ông M mua nhưng nhờ bà Lê Thị K (trú tại phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa) là em họ của ông M đứng tên đăng ký. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cùng giấy phép lái xe cho người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu là chị Lê Thị L3.

Đối với xe ô tô biển kiểm soát 43C-033.56 do H điều khiển gây tai nạn là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Trần Đình H. Xe này H mua lại của Nguyễn Văn C, sinh năm 1988, trú tại khu phố V, thị trấn T, tỉnh Thanh Hóa vào khoảng tháng 5/2024. Chiếc xe trên C mua của Nguyễn Thị Tân U, sinh năm 1985, trú tại số A C, H, quận L, thành phố Đà Nẵng vào khoảng tháng 4/2024. Hiện đăng ký xe vẫn mang tên chị Nguyễn Thị Tân U. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là Trần Đình H.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Đình H đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình ông Lê Ngọc M số tiền 240.000.000 đồng và toàn bộ chi phí chữa trị thương tích của ông Quách Văn Y. Đại diện gia đình ông Lê Ngọc M, ông Quách Văn Y không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Phần hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 43C-033.56 do H là chủ sở hữu tự gây ra nên không xem xét; Còn việc làm hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 36K7-2332 của ông M, người đại diện hợp pháp không yêu cầu, đề nghị giải quyết.

Cáo trạng số 33/CT-VKSTX ngày 03/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Trần Đình H về tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bị cáo Trần Đình H phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s, b khoản 1, 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Bị cáo Trần Đình H từ 12(mười hai) tháng tù đến 15(mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24(hai mươi tư) tháng đến 30(ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo; Buộc Bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000đ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào khoảng 13h 20' ngày 20/11/2024, Bị cáo Trần Đình H có bằng lái xe ô tô hạng B2 đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43C- 033.56 di chuyển trên đường nhựa liên xã thuộc địa phận thôn N xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, theo hướng đi từ xã X đến thị trấn S, điều khiển xe đi lấn sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển, dẫn đến mặt trước bên trái ba đờ sốc trước (cách thành xe bên trái 09cm) xe ô tô của H đã đâm va vào mặt lăn, má trái lốp trước và cạnh vành xe mô tô biển kiểm soát 36K7-2332 do ông Lê Ngọc M điều khiển, chở theo Quách Văn Y ngồi phía sau, đang di chuyển ở phần đường bên trái và ngược chiều so với xe ô tô của Huấn. Hậu quả: Ông M tử vong do đa chấn thương; Anh Y bị thương tích với tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 44%. Hành vi của Bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Bị cáo H tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 điều 9, khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ (nay được thay thế bằng khoản 28 điều 9, khoản 1 điều 10, khoản 3 điều 14 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ là chết người. Do đó Bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.

Đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Y là 44% nên Bị cáo không phải chịu trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm b khoản 1 điều 260 BLHS.

Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận Bị cáo Trần Đình H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

Cáo trạng số 33/CT-VKSTX ngày 03/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Trần Đình H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng.

[4]. Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác. Trong tình hình hiện nay tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ đang là mối quan tâm của toàn xã hội, hậu quả của những vi phạm này là nghiêm trọng, ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh .

[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của Bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có có Tiền án, Tiền sự; Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo đều thành khẩn khai báo; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả cho Bị hại nên Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác Bị cáo có mẹ đẻ là bà Lê thị L1 được Chủ tịch nước C3 tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên Bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt: HĐXX xét thấy: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý; Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có có Tiền án, Tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly xã hội đối với Bị cáo. HĐXX áp dụng điều 65 BLHS cho Bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và cũng đủ điều kiện giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[7]. Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình Bị hại số tiền 240.000.000đ và toàn bộ chi phí chữa trị thương tích của ông Quách Văn Y. Đại diện hợp pháp của Bị hại và ông Quách Văn Y không có yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s, b khoản 1, 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .
  • - Xử phạt: Bị cáo Trần Đình H 12(mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24(hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo;

Giao Bị cáo Trần Đình H cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

Buộc Bị cáo Trần Đình H phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.

  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của Bị hại có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá
  • - THA dân sự huyện Thọ Xuân;
  • - THA Hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện của Bị hại
  • - UBND xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huấn gây tai nạn giao thông
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger