Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 14 - 02 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Phú – Giáo viên Hưu trí

Ông Từ Hồng Hải – Cán bộ Hưu trí thành phố Đà Lạt

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Hữu H, giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 24 tháng 03 năm 1994 tại: Lâm Đồng; HKTT: B P, Phường F, thành phố Đ; Tạm trú: 14/2 đường C, Phường C, thành phố Đ; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Nguyễn Hữu H1 (đã chết); con bà: Trần Nguyễn Anh P, sinh năm: 1973; gia đình có 02 chị em, lớn nhất sinh năm 1989, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

Ngày 07/6/2010, bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 450.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 238865-QĐ/XPVPHC ngày 18/6/2010 về hành vi Giao xe cho người không đủ điều kiện theo quy định tham gia giao thông, sử dụng còi không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Bị cáo đã đóng phạt ngày 19/6/2010.

Ngày 10/3/2011, bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khoẻ của người khác” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44776/HC ngày 10/3/2011. Bị cáo đã đóng phạt ngày 10/6/2011.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. (có mặt)

- Bị hại: Bà Đinh Thị Thúy V, sinh năm 1970.

Địa chỉ: E KQH H, Phường E, thành phố Đ. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Yên D, sinh ngày 23/10/1993.

Địa chỉ: Số G Khu B, Phường D, thành phố Đ.

Chỗ ở hiện nay: Số B H, Phường E, thành phố Đ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu H là tài xế lái xe thử việc từ tháng 08/2023 cho Công ty TNHH D1 ở địa chỉ: KQH H, Phường E, thành phố Đ do bà Đinh Thị Thúy V làm Giám đốc. Đến tháng 09/2023, H bị Công ty cho nghỉ việc.

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 09/12/2023, sau khi cùng gia đình đi ăn uống tại quán Đ tại đường H, Phường E, thành phố Đ. Khi đi ngang qua bãi xe của nhà xe V2 tại KQH H, Phường E, thành phố Đ, H thấy trong bãi xe có xe ô tô hiệu Ford Transit biển số 49B - 014.79 của Nhà xe V2 đang để trong bãi xe. Do trước đây khi còn là tài xế thử việc tại nhà xe V2, H đã một vài lần được giao để vận chuyển hành khách nên H biết rõ việc các xe ô tô của nhà xe Vy V1 sau khi được đưa về bãi xe thì tài xế sẽ để chìa khoá xe tại nắp nhiên liệu bên hông xe nên H nảy sinh ý định vào bãi xe lấy chìa khoá, trộm cắp xe để sử dụng vào mục đích cá nhân. Thực hiện ý định trên, H đi đến vị trí hông trái xe ô tô biển số 49B - 014.79 và tiến đến vị trí nắp bình dầu của xe. Lúc này, H dùng tay mở nắp bình dầu của xe ra thì thấy bên trong có một chìa khoá xe ô tô, H sử dụng chìa khoá xe vừa lấy được để mở cửa xe bên tài xế, rồi ngồi vào vị trí ghế tài xế trong cabin xe. H dùng chìa khoá để khởi động máy xe ô tô và điều khiển xe ô tô 49B - 014.79 ra khỏi khu vực bãi xe rồi điều khiển xe ra đường M về hướng đường H, Phường D, thành phố Đ. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe ô tô chạy về hướng làng H, Phường E, thành phố Đ. Đây là đoạn đường nhựa, có vạch kẻ đường màu trắng ở giữa phân chia hai làn đường trái phải, có hệ thống đèn đường, đường khô, H điều khiển xe ở số C (xe có 06 số tiến, 01 số lùi), tốc độ khoảng 60 km/h. Khi đi đến đoạn đường dốc, có khúc cua qua phải (theo chiều đi của H), do chạy với tốc độ cao, không làm chủ tay lái, Hoàng đạp phanh xe gấp khiến phần đuôi xe bị văng mạnh qua bên trái, đồng thời phần đầu xe ô tô biển số 49B - 014.79 do H điều khiển tông vào hàng rào sắt và bê tông của nhà anh Nguyễn Yên D khiến toàn bộ phần hàng rào của căn nhà đổ sập, hư hỏng. Do va chạm mạnh với hàng rào nên túi khí trên xe bung ra, ép chặt vào người H khiến H bị choáng. H mở cửa xuống xe thì thấy người dân trong khu vực tập trung đông, do lo sợ nên H đi bộ ra khu vực Thác Cam L. Sau đó, H gọi điện thoại cho người nhà đến đưa lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh L để cấp cứu, chữa trị vết thương. (BL 76-83; 99-129)

* Tang vật của vụ án:

  • 01 (một) xe ô tô hiệu Ford Transit, biển số 49B – 014.79, sản xuất mới năm 2017, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 031040, tên chủ xe Công ty TNHH D1 (bản phô tô công chứng).
  • 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số EA 1543526, biển số 49B – 014.79.
  • 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số OT22 0161422, tên chủ xe Công ty TNHH D1, biển số 49B – 014.79.
  • 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp số 23/NHCT-CNLĐ ngày 31/07/2023.
  • 01 (một) USB, màu đen, không rõ nhãn hiệu, dung lượng 4 GB, được niêm phong trong phong bì màu trắng.
  • 01 (một) Thẻ nhớ hiệu VIETMAP, dung lượng 128GB được niêm phong trong phong bì màu trắng. (BL 56-58; 84-88; 95)

* Người bị hại: Chị Đinh Thị Thúy V, sinh năm 1970, HKTT: E2 KQH H, Phường E, thành phố Đ – là Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1 Đinh Vy V1 bị chiếm đoạt 01 xe ô tô hiệu Ford Transit, biển số 49B – 014.79, sản xuất mới năm 2017, đã qua sử dụng. Theo Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 09/KL-HĐĐG ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 (Một) xe ô tô hiệu Ford Transit, biển số 49B – 014.79, sản xuất mới năm 2017, đã qua sử dụng có giá trị 460.000.000 đồng. Chị V1 yêu cầu được bồi thường số tiền 400.000.000 đồng. (BL 37-42; 99-107; 113-129)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Yên D, sinh ngày 23/10/1993, HKTT: Số G Khu B, Phường D, thành phố Đ; chỗ ở hiện nay: Số B H, Phường E, thành phố Đ. Theo Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 65/KL-HĐĐG ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, xác định:

  • 04 (Bốn) khung lan can sắt, kích thước 2m x 1,1m có chi phí khôi phục là 8.800.000 đồng;
  • 01 (Một) taluy đá, kích thước 9,2m x 1,1m x 0,5m có chi phí khôi phục là 10.000.000 đồng;
  • 04 (Bốn) trụ bê tông kích thước 30cm x 1,1m có chi phí khôi phục là 6.000.000 đồng;
  • 09 (Chín) mét vách tôn lạnh có chi phí khôi phục là 2.800.000 đồng;
  • 01 (Một) cây sắt loại 30x60 có chi phí khôi phục là 450.000 đồng;
  • 01 (Một) thanh cửa nhôm dài 60cm, rộng 03cm có chi phí khôi phục là 650.000 đồng;

Tổng chi phí khôi phục là 28.700.000 đồng. Chị Đinh Thị Thúy V đã tự nguyện xây dựng, sửa chữa lại toàn bộ hư hỏng phần bờ tường rào, lan can, taluy và một số chi tiết khác của căn nhà của anh D với tổng chi phí 28.920.000 đồng. Anh Dũng không có yêu cầu gì thêm. (BL 43-47; 108,109)

Tại Bản kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, xác định:

“- Không đủ cơ sở xác định xe ô tô biển số 49B – 014.79 có va chạm với phương tiện khác hay không.

- Xe ô tô biển số 49B – 014.79 đang lưu thông theo chiều từ làng hoa V về L, Phường E, TP Đ, Lâm Đồng”. (BL 28-32)

Theo Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hoá của K xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa tỉnh L lập ngày 10/12/2023 về định lượng Ethanol (cồn) trong máu đối với Nguyễn Hữu H có kết quả: 24,34 mmol/l. (BL 64)

Theo Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 213/KL-HĐĐG ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: Tổng chi phí khôi phục của xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit, loại 10 chỗ, biển số 49B-014.79 đưa vào sử dụng là 69.850.000 đồng. (BL 48-55)

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSĐL-LĐ ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo Nguyễn Hữu H khai nhận hành vi đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố, bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt vẫn giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H từ 09 năm đến 10 năm tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 128.920.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền trên

Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo vô cùng ăn năn, hối hận đối với hành vi phạm tội do mình thực hiện, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Yên D mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét lời trình bày của anh D trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.

[3] Về căn cứ kết tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, không gian, địa điểm và cách thức thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 09/12/2023, khi đi ngang qua bãi xe của nhà xe V2 tại KQH H, Phường E, thành phố Đ. Do trước đây từng có thời gian thử việc tại nhà xe này nên H biết tài xế thường để chìa khoá xe tại nắp nhiên liệu bên hông xe. Lúc này, H nảy sinh ý trộm cắp xe để sử dụng vào mục đích cá nhân. Thực hiện hành vi, H dùng tay mở nắp bình dầu của xe thì thấy bên trong có một chìa khoá xe ô tô, H sử dụng chìa khoá xe vừa lấy được để mở cửa, ngồi vào vị trí ghế tài xế trong cabin và điều khiển xe ô tô 49B - 014.79 ra khỏi khu vực bãi xe của nhà xe V2 và di chuyển về hướng đường V. Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 09/KL-HĐĐG ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 (Một) xe ô tô hiệu Ford Transit, biển số 49B – 014.79, sản xuất mới năm 2017, đã qua sử dụng có giá trị 460.000.000 đồng. Do đó, HĐXX xét thấy có căn cứ tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo đã lợi dụng việc trước đây từng có thời gian thử việc tại nhà xe V2 và biết được trong quá trình đậu, trả xe thì tài xế thường để chìa khóa ở nắp bình dầu bên hông xe. Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong quá trình xe đậu tại bãi và không có người trông coi, bị cáo đã lén lút lấy trộm chìa khóa, khởi động xe và điều khiển phương tiện đến nơi khác. Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội và gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Đánh giá nhân thân và áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Việc bị cáo phạm tội cũng một phần xuất phát từ tâm lý chủ quan, thiếu đề phòng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của bị hại khi tạo thành thói quen, để chìa khóa xe ở nơi có thể dễ dàng lấy được, tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo trong việc nhanh chóng trộm cắp được tài sản và tẩu thoát. Tại phiên tòa, bị hại cũng xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do đó, có căn cứ để áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Đinh Thị Thúy V là đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1 Đinh Vy V1 bị chiếm đoạt 01 xe ô tô hiệu Ford Transit, biển số 49B – 014.79 và bị hư hỏng một phần do hành vi của bị cáo gây ra. Do đó, chị V1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị V1.

Đối với chi phí xây dựng, sửa chữa lại toàn bộ hư hỏng phần bờ tường rào, lan can, taluy và một số chi tiết khác căn nhà của anh Nguyễn Yên D. Tổng chi phí khôi phục là 28.700.000 đồng. Chị Đinh Thị Thúy V đã bỏ ra để sửa chữa. Chị V yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền trên nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm phải trả lại cho chị V theo quy định.

Tổng cộng, bị cáo Nguyễn Hữu H có trách nhiệm bồi thường cho chị Đinh Thị Thúy V số tiền 100.000.000đ + 28.920.000đ = 128.920.000₫

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Yên D không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 xe ô tô hiệu Ford Transit, biển số 49B – 014.79, đã qua sử dụng của Công ty TNHH D1. Hiện tài sản này là vật chứng có liên quan trong một vụ án hình sự khác về việc “Hủy hoại tài sản” xảy ra ngày 27/12/2023 tại thửa đất số 443, tờ bản đồ số 22, tại phường G, thành phố Đ theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 93/QĐ-ĐCSHS ngày 15/5/2024 nên vật chứng đã được giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L để phục vụ quá trình điều tra vụ án. Do đó, vẫn chưa được giao trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với các vật chứng khác trong quá trình điều tra đã giao trả lại cho chị Đinh Thị Thúy V, chị V không có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra để xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với phần trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với hành vi của bị cáo về việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, không chú ý quan sát, không làm chủ tay lái dẫn đến việc va chạm với hàng rào sắt, bê tông nhà số B H, phường E, thành phố Đ dẫn đến thiệt hại 28.920.000đ không đủ định lượng để cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với hành vi này của bị cáo mà chuyển hồ sơ để xử lý vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/5/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải bồi thường cho chị Đinh Thị Thúy V số tiền 128.920.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu, chín trăm hai mươi ngàn đồng)

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 6.446.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Yên D vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo đối với phần có liên quan)

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - CSĐT Công an thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo (để thi hành);
  • - Bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Sở tư pháp Lâm Đồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Án văn;
  • - Hồ sơ THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Quang Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Hoàng “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger