Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đinh Thế Cần;
  2. Bà Nguyễn Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn T, sinh ngày 24/8/1990 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T1, sinh năm 1964 và bà Mai Thị T2, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 114/2022/HSST ngày 14/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 18/5/2023, chấp hành xong hình phạt tù, tháng 11/2022 thi hành xong án phí hình sự.

Nhân thân: Tháng 02/2009 tham gia nghĩa vụ quân sự, đến tháng 7/2010 xuất ngũ trở về địa phương.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Q, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).

2. Mai Văn M, sinh ngày 18/7/1990 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Văn L, sinh năm 1958 và bà Mai Thị L1, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/12/2024 đến nay tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà).

Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Văn D, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng

Người làm chứng:

Chị Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 30/10/2024, Mai Văn M đến nhà Bùi Văn T (bạn của M), ở cùng thôn chơi. Tại đây, T và M rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó, M điều khiển xe đạp điện chở T đi trên đường liên xã xem có ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì trộm cắp. Khoảng 18 giờ 15 phút, khi đi đến nhà chị chị Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1979, ở thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, T nhìn thấy trong sân nhà chị N để nhiều xe điện, xe đạp nên nói với M: “Có xe đây rồi”, hiểu ý T nên M điều khiển xe đi khoảng 100m thì quay đầu xe và dừng tại vị trí cách cổng nhà chị N khoảng 20m để quan sát. Thấy tại khu vực để xe không có người trông coi, M đứng ngoài cảnh giới để T đi bộ vào trong sân nhà chị N trộm cắp 01 chiếc xe máy điện màu đen, nhãn hiệu DIBAO, số loại X Men, biển số đăng ký 17MĐ5-111.18, trị giá 3.333.000 đồng của anh Nguyễn Mạnh T3, sinh năm 1983, cư trú tại thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. T thấy xe trên không khóa càng, không khóa cổ nên dắt, đẩy chiếc xe trên từ sân đi thẳng ra chỗ M đang đứng ngồi lên xe máy điện để M điều khiển xe đạp điện của M đẩy xe T đi về hướng xã A, huyện Q. Khi đi đến khu vực nghĩa trang X, thuộc thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, M về nhà lấy tô vít, cả hai dùng tô vít cạy mở được ổ khóa điện, khởi động xe vừa trộm cắp được, T và M mỗi người điều khiển một xe đi về hướng thành phố Hải Phòng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T và M điều khiển xe đến nhà anh Đỗ Văn D, sinh năm 1975 (làm nghề thu mua sắt vụn) ở thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng bán chiếc xe máy điện vừa trộm cắp được nhưng anh D không mua. Sau đó, anh D nhận cầm cố chiếc xe trên với số tiền 1.000.000 đồng và hẹn 1 - 2 ngày sau T và M đến trả tiền và chuộc lại chiếc xe. Nhận được số tiền trên, M chở T đi đến địa phận xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình để T mua ma túy về sử dụng, sau đó ai về nhà đấy.

Cáo trạng số 21/CT-VKSQP ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố các bị cáo Bùi Văn T và Mai Văn M về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Bùi Văn T, Mai Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Bùi Văn T và Mai Văn M, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”:

  • + Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.
  • + Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b, h, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Mai Văn M mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận các bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo Bùi Văn T, Mai Văn M tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (bút lục từ số 104 đến số 124); phù hợp với đơn trình báo và biên bản ghi lời khai của bị hại: anh Nguyễn Mạnh T3 (Bút lục số 01, bút lục từ số 125 đến số A); Các quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu cùng ngày 05/11/2024 của Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình; Đơn xin giao nộp, khắc phục hậu quả của Bùi Văn T ngày 02/11/2024; biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử do Công an xã A, huyện Q lập hồi 17 giờ ngày 02/11/2024 tại Công an xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 08 đến số 09; bút lục số 70 đến số G); Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 11/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q, tỉnh Thái Bình, kết luận: 01 chiếc xe máy điện biển số 17MĐ5-111.18, nhãn hiệu DIBAO, số loại X Men, sơn màu đen, đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu năm 2019 trị giá tại thời điểm ngày 30/10/2024 là 3.333.000 đồng (bút lục số 66); Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc do Công an xã A lập ngày 02/11/2024 cùng sơ đồ hiện trường lập ngày 30/10/2024; biên bản xác định hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 04/12/2024 tại nhà chị Lê Thị Tuyết N (bút lục số 56 đến số 57; bút lục từ số 60 đến số F); Biên bản ghi lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: chị Lê Thị Tuyết N và ông Đỗ Văn D (Bút lục từ số 131 đến số A); cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 30/10/2024, tại nhà của chị Lê Thị Tuyết N, ở thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Bùi Văn T và Mai Văn M đã có hành vi trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, số loại X Men, sơn màu đen, biển số đăng ký 17MĐ5-111.18 trị giá 3.333.000 đồng của anh Nguyễn Mạnh T3, sinh ngày 23/3/1983, trú tại thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự: Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, số loại X Men, sơn màu đen, biển số đăng ký 17MĐ5-111.18 của anh Nguyễn Mạnh T3 mà các bị cáo đã thực hiện vào tối ngày 30/10/2024 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ gây mất trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó việc xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo nói riêng và đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét về vai trò của từng bị cáo thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có việc câu kết chặt chẽ. Bị cáo Trung trực T4 đi vào trộm cắp xe máy điện là người thực hành; bị cáo M là đồng phạm đứng ngoài cảnh giới, bị cáo T có nhân thân xấu nên hình phạt của bị cáo Trung cao hơn bị cáo M.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo Bùi Văn T có nhân thân xấu năm 2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo Mai Văn M có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bùi Văn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Mai Văn M không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện trả lại tài sản đã trộm cắp cho bị hại nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Người phạm tội tự nguyện, sửa chữa, khắc phục hậu quả”, “Phạm tội gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm s, b, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo M có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có thời gian, tham gia nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo T là người có nhân thân xấu, do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đối với bị cáo M có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, có khả năng cải tạo thành công dân có ích cho xã hội nên không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ để đạt được mục đích của hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Mạnh T3 đã nhận lại chiếc xe máy điện bị cáo Bùi Văn T và bị cáo Mai Văn M đã trộm cắp và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho anh bất cứ khoản tiền nào nên không đặt ra giải quyết.

- Đối với ông Đỗ Văn D: là người đã cầm cố chiếc xe máy điện các bị cáo đã trộm cắp của anh Nguyện Mạnh T5. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành điều tra xác minh, quá trình điều tra xác định: Khi ông nhận cầm cố chiếc xe trên, ông không biết đó là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông D là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T và Mai Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản"

2. Hình phạt:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b, h, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Mai Văn M 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ 01 nắm tô vít, bằng nhựa màu cam.

(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 34 ngày 11/02/2025 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Bùi Văn T và Mai Văn M mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/3/2025). Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ; VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã An Vũ;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bui Văn T cùng đồng bọn phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger