Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/ HS-ST

Ngày: 18/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Thái

Ông Lương Mạnh Tường

-Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Bình – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình; Tòa án nhân dân Khu vực 3 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST – HS ngày 20 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/ QĐXXST – HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Duy H (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 13/12/1999; Nơi thường trú: thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình; Nơi tạm trú: thôn P, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; CCCD số [...]; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Duy C và bà Quách Thị H1; vợ Bùi Thị P (đã ly hôn), có 02 con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 20/8/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh tỉnh N. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quách Thị H1; Nơi cư trú: thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác:

  • + Người làm chứng: ông Trương Công L (vắng mặt)
  • + Người chứng kiến: chị Đinh Thị H2 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 45 phút ngày 11/8/2025, khi Trần Duy H điều khiển xe mô tô đi đến trục đường D, thuộc địa phận phố T, xã G, tỉnh Ninh Bình thì gặp tổ công tác Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra; biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình, H tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi nilon màu trắng kích thước (1,6x2,1)cm, bên trong đựng chất dạng tinh thể màu trắng và khai nhận đó là ma túy đá, H mua về để sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong túi nilon ma túy có đặc điểm nêu trên. Ngoài ra, còn thu giữ của H 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1- 5780 đã qua sử dụng. Sau đó lực lượng Công an đưa Trần Duy H cùng vật chứng về trụ sở Công an xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra, Trần Duy H khai nhận là người sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 11 giờ ngày 11/8/2025, H điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1- 5780 đi từ phòng trọ ở thôn P, xã G, tỉnh Ninh Bình, đến khu vực bãi cát thuộc địa phận xã G, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H gặp một người đàn ông tên V đang đứng một mình (H không biết họ tên đầy đủ, chỉ biết V nhà ở xã G, tỉnh Ninh Bình). H hỏi: “Anh còn đá không bán cho em túi năm” đồng thời H lấy ra số tiền 500.000 đồng đưa cho V. V nhận tiền của H rồi chỉ vị trí cất ma túy cách đó khoảng 01 đến 02m. Sau đó, V đi đâu H không biết. H đi đến vị trí bãi cát V chỉ, thấy 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Xác định đó là ma túy, loại Methamphetamine, H cầm ở tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về. Trên đường đi về đến khoảng 12h00 cùng ngày thì bị cơ quan công an kiểm tra và phát hiện như trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Trần Duy H có khối lượng là 0,2214 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 495/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2214 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy có số thứ tự 247, thuộc bảng Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

H3 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,1546 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS-GV ngày 20/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình đã truy tố Trần Duy H ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Duy H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/8/2025.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 495/KL-KTHS, bên trong gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,1546 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 vỏ túi nilon màu trắng trên miệng túi có đường viền màu xanh lá cây kích thước (1,6x2,1)cm.
  • - Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Duy H phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Trần Duy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp Kết luận giám định số 495/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Trần Duy H không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép cất giữ, quản lý, mua bán, vận chuyển hoặc sử dụng chất ma túy. Hồi 12 giờ 45 phút ngày 11/8/2025, tại khu vực trục đường 477 thuộc địa phận phố T, xã G, tỉnh Ninh Bình, Trần Duy H có hành vi tàng trữ trái phép 0,2214 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.

    Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định:

    Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

    c) Heroine, C1, Methamphetamine, A, Ketamine,F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

    Bị cáo Trần Duy H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi cất giấu trái phép Heroine của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2025. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  2. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túy cất giấu để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng.
  3. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
  4. Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
  5. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

    Đối với số ma túy còn lại sau giám định cùng các toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong, dán kín theo quy định, bên trong gồm túi nilon, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, sử dụng; không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

    Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1- 5780 thu giữ của H, quá trình điều tra xác định xe mô tô là tài sản hợp pháp của bà Quách Thị H1, sinh năm 1981, trú tại thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình (là mẹ đẻ của H). Ngày 11/8/2025, H sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy, bà H1 hoàn toàn không biết. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại chiếc xe trên cho bà H1 do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

  6. Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông tên V ở xã G, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành điều tra, xác minh, nhưng không đủ căn cứ để xác định, xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  7. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
  8. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Trần Duy H phạm tội"Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Trần Duy H 03(ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11/8/2025.
  2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

    - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 495/KL-KTHS-MT, bên trong là số ma túy còn lại sau giám định, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong, dán kín theo quy định, bên trong gồm túi nilon, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

    (Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, tỉnh Ninh Bình, ngày 23/10/2025.).

  3. Án phí: Bị cáo Trần Duy H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 18/11/2025. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh NB
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND Khu vực 3 – Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng;
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú)

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/ HS-ST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2025/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tran Duy H - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger