|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HS-ST
Ngày 13/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thanh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Ngọc Lan, ông Phạm Văn Bé.
- Thư ký phiên toà: bà Tăng Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Dương Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H; tên gọi khác: không; sinh ngày 20/10/1974, tại huyện C1, tỉnh H; nơi cư trú: thôn 2, xã C, huyện C1, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Dẹ và bà Trần Thị Huỷn; vợ: Phạm Thị Quế; con: có 02 con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/3/2025, tạm giữ đến ngày 26/3/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
2. Phạm Đình Q; tên gọi khác: không; sinh ngày 02/02/1987, tại huyện C1, tỉnh H; nơi cư trú: thôn 2, xã C, huyện C1, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Thư và bà Trần Thị Thiên; vợ: Phạm Thị Hậu; con: có 04 con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/3/2025, tạm giữ đến ngày 26/3/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
3. Trần Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày 20/6/1976, tại huyện C1, tỉnh H; nơi cư trú: thôn 3, xã C, huyện C1, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Nuôi và bà Trần Thị Vẹt; vợ: Phạm Thị Hạnh (đã chết); con: có 01 con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/3/2025, tạm giữ đến ngày 26/3/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
4. Thái Văn B; tên gọi khác: không; sinh ngày 04/10/1986, tại huyện C1, tỉnh H; nơi cư trú: thôn 3, xã C, huyện C1, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Bá Song và bà Phạm Thị Thành; vợ: Phạm Thị Thoan; con: có 02 con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 27/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh H xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/3/2025, tạm giữ đến ngày 26/3/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
5. Thái Văn B1; tên gọi khác: không; sinh ngày 09/10/1989, tại huyện C1, tỉnh H; nơi cư trú: thôn 3, xã C, huyện C1, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn Bỉnh và bà Trần Thị Lương; vợ: Nguyễn Thị Loan; con: có 01 con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú ngày 19/3/2025, tạm giữ đến ngày 26/3/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “câm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Phạm Thị Hằng, sinh năm 1991; địa chỉ: khu 9, thị trấn Cái rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. (vắng mặt).
- Người làm chứng: anh Thái Ngọc Phương, Trần Quốc Công, Kiều Văn Chương và Trần Văn Ngọc (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 17/3/2025, Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B, Thái Văn B1, Trần Văn Ngọc đến quán Bi-a tại khu 9, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn chơi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm không chơi Bi-a nữa, Hậu rủ mọi người chơi đánh bạc bằng hình thức chơi “liêng”, được thua bằng tiền, thì Quân, Thuận, Băng đồng ý. Băng bảo mọi người đến nhà nghỉ Duy Khánh 2 thuộc khu 9, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn để đánh bạc. Sau đó, Thuận trả tiền chơi Bi-a rồi mượn của Ngọc 1.000.000đồng và cùng Hậu, Quân, Băng, Bằng, Ngọc đi bộ đến nhà nghỉ Duy Khánh 2. Khi đến nơi, Thuận hỏi chị Phạm Thị Hằng là quản lý nhà nghỉ để thuê phòng, chị Hằng bảo Thuận lên phòng 303 trên tầng ba. Khi cả nhóm đi lên tầng 3, Băng đi đầu tiên thấy trong phòng 302 có anh Thái Ngọc Phương là người quen trước đó đang nằm ngủ, nên Băng đi vào xem, thì cả nhóm cũng vào theo. Lúc này khoảng 11 giờ cùng ngày, Hậu đưa cho Bằng 50.000đồng, nhờ Bằng đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc, Bằng đồng ý và cầm tiền đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ hết 40.000đồng, còn 10.000 đồng Bằng tự mua nước uống hết. Hậu lấy 01 chiếc chăn từ trên giường ngủ của anh Phương trải xuống nền nhà để cả nhóm ngồi đánh bạc. Sau khi Bằng mua 02 bộ bài về đưa cho Hậu, Hậu bóc 01 bộ ra và chia bài để đánh bạc cùng Quân, Thuận, Băng bằng hình thức chơi “liêng”, được thua bằng tiền.
Cách thức và mức tiền đánh bạc được Hậu, Quân, Thuận, Băng thống nhất như sau: Khi chơi ván đầu tiên, mỗi người góp 50.000đồng rồi bốc 01 lá bài, ai có lá bài to nhất sẽ giành chiến thắng, nhận được tiền thắng và được chia ván bài tiếp theo. Từ ván thứ hai sẽ là hình thức chơi liêng, mỗi người sẽ được chia 03 lá bài. Trước khi lên bài phải tiến hành vào tiền, số tiền là 50.000đồng được gọi là tiền trống cửa, về sau nâng lên thành 100.000 đồng; tiền trống cửa do một người vào, thay đổi xoay vòng, chia đều mỗi người vào tiền một ván. Người vào tiền là người có lượt chơi cuối cùng của vòng, người chơi đầu tiên là người tay dưới, bên tay phải người vào tiền trống cửa. Lượt chơi lần lượt theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Đến lượt chơi, người chơi bài có thể tố bài hoặc úp bài. Khi úp bài đồng nghĩa sẽ bỏ cuộc và thua ván bài trên. Tố bài là thêm tiền cược vào, có thể tố nhiều lần nhưng số tiền cược không được quá 500.000 đồng/ván bài. Người chơi tiếp theo nếu tố bài thì số tiền tố phải bằng hoặc cao hơn số tiền tố bài của người chơi trước, không được tố số tiền thấp hơn. Khi những người chơi trước úp bài thì người còn lượt chơi cuối sẽ giành chiến thắng và nhận hết số tiền trống cửa và tiền cược. Nếu có từ hai người tố bài cùng một mức tiền, thì sẽ tiến hành so điểm, ai có điểm to hơn sẽ giành chiến thắng. Chỉ có một người giành chiến thắng và nhận hết số tiền của ván bài, bao gồm tiền cược và tiền trống cửa. Cách tính điểm được tính như sau: cao nhất là sáp, tiếp theo là liêng, ảnh (đồng hoa), cuối cùng là cộng điểm. Sáp là có ba lá bài cùng quân bài. Liêng là ba lá bài có các quân bài thứ tự liên tiếp nhau: Q,K,A là cao nhất; 2,3,4 là thấp nhất. Nếu cùng sáp thì tính chất của lá bài cao nhất. Ảnh (đồng hoa) là ba lá bài chỉ gồm các quân bài liền nhau cùng chất. Nếu cùng ảnh thì tính chất của lá bài to nhất. Cộng điểm bằng cách cộng điểm của ba lá bài và lấy phần đơn vị. A là tính là 1 điểm, các quân bài từ 2 đến 10 tính thành các điểm tương ứng từ 02 điểm đến 10 điểm, J, Q, K không tính điểm. Điểm cao nhất là 9. Thứ tự các lá bài từ bé đến to là: 2,3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K,A thứ tự các chất từ bé đến to gồm bích, tép, cơ, rô. Trong lúc Hậu, Quân, Thuận, Băng đánh bạc thì Ngọc, Bằng ngồi xem, Phương tỉnh dậy cũng ngồi xem, còn anh Trần Quốc Công được Hậu gọi điện nhờ mang trầu cau đến cho Hậu ăn, anh Công rủ anh Kiều Văn Chương đi cùng để tắm nhờ, khi vào phòng 302 thấy nhóm Hậu đánh bạc thì anh Công và anh Chương cũng ngồi xem, không tham gia đánh bạc.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Công an thị trấn Cái Rồng kiểm tra hành chính nhà nghỉ Duy Khánh 2, phát hiện, bắt quả tang tại phòng 302 có Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B đang đánh bạc, ngoài ra còn có Thái Văn B1, Trần Văn Ngọc, Trần Quốc Công, Thái Ngọc Phương ngồi xem đánh bạc, Kiều Văn Chương đang tắm trong nhà vệ sinh. Vật chứng thu giữ gồm:
- Tổng số tiền trước mặt những người đánh bạc là 21.250.000đồng, giữa chiếu bạc là 100.000đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, 01 chiếc chăn.
- Thu giữ trong người của những người đánh bạc cụ thể: Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Samsung Note 9; Phạm Đình Q 01 điện thoại di động Vivo; Trần Văn T 01 điện thoại di động Viettel; Thái Văn B 01 điện thoại di động Iphone 7.
Ngày 19/3/2025, Thái Văn B1 đến Công an thị trấn Cái Rồng đầu thú về hành vi giúp sức mua 02 bộ bài tú lơ khơ cho nhóm Nguyễn Văn H đánh bạc.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B và Thái Văn B1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Hằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Nhà nghỉ của chị gần Cảng nên có nhiều khách quen đi biển lên nhà chị nghỉ, nên thường xuyên có khách thuê phòng để nghỉ buổi tối. Buổi tối ngày 16/3/2025 chị ngủ trong phòng nên không biết có ai đến nghỉ hay không, cũng không có ai gọi chị, đến khoảng 08 giờ ngày 17/3/2025, chị đi các phòng kiểm tra thì thấy có 01 khách nam giới đang nằm trên giường, đắp chăn ngủ. Chị không biết là ai nhưng nghĩ là dân đi biển, khách quen nên mới tự lên phòng để ngủ, chị không gọi dậy và để người này ngủ tiếp. Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 17/3/2025, Thuận cũng là khách quen của chị đến cùng 04-05 người đến hỏi thuê phòng, chị bảo lên phòng 303 sau đó đi chợ và không để ý nữa. Đến khoảng 13 giờ thì Công an đến kiểm tra, bắt quả tang nhóm người đánh bạc tại phòng 302, chị không biết tại sao nhóm Thuận lại vào phòng này. Chị đã được Phương trả 300.000đồng và Thuận trả 400.000đồng là tiền thuê phòng nghỉ, chị không có yêu cầu gì khác, không yêu cầu nhận lại chiếc chăn bị thu giữ tại nhà nghỉ vì đã cũ và không còn giá trị sử dụng.
Người làm chứng anh các anh Trần Văn Ngọc, Trần Quốc Công, Kiều Văn Chương đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại Cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo về diễn biến quá trình các bị cáo đánh bạc, các anh chỉ ngồi xem, không tham gia đánh bạc; ngoài ra anh Ngọc khai Trần Văn T hỏi vay anh 1.000.000đồng, không nói vay để làm gì, anh đã cho Thuận vay, không biết Thuận sử dụng số tiền vay vào việc gì.
Cáo trạng số 561/CT-VKSVĐ ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B và Thái Văn B1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, (riêng đối với Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B1 áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS) xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Văn H, Thái Văn B mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Phạm Đình Q, Trần Văn T mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Thái Văn B1 từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 21.350.000 đồng.
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc chăn, 02 bộ bài tú lơ khơ môi bộ gồm 52 lá bài.
- + Trả lại Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Samsung Note 9; Phạm Đình Q 01 điện thoại di động Vivo; Trần Văn T 01 điện thoại di động Viettel; Thái Văn B 01 điện thoại di động Iphone 7.
- + Truy thu của bị cáo Thái Văn B1 số tiền 10.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B, Thái Văn B1 đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo ở mức thấp nhất cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B, Thái Văn B1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17/3/2025, các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, bản ảnh vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh hiện trường, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 19/3/2025; đồng thời còn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ đến 13 giờ, ngày 17/3/2025, tại phòng 302, nhà nghỉ Duy Khánh 2 thuộc khu 9, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi “liêng” được thua bằng tiền, với tổng số tiền đánh bạc là 21.350.000 đồng, bằng 02 bộ bài tú lơ khơ do Thái Văn B1 mua giúp.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm trật tự công cộng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T và Thái Văn B đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, các chứng cứ buộc tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng số 561/CT-VKSVĐ ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo, nên quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp lý.
[3] Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đánh bạc trái phép là tệ nạn tác động tiêu cực đến đời sống, xã hội, làm cho nhiều người phải tán gia bại sản, nợ nần chồng chất, gia đình ly tán, là nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo biết hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì thiếu ý thức chấp hành pháp luật, mong muốn thu lời bất chính một cách nhanh chóng nên cố ý thực hiện tội phạm nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm, để cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về vai trò của các bị cáo: các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo Hậu, Quân, Thuận và Băng cùng trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm, Bằng tham gia với vai trò giúp sức. Nguyễn Văn H là người khởi xướng việc đánh bạc và rủ các bị cáo chơi bạc và nhờ Bằng đi mua bộ bài tú lơ khơ đồng thời là người bỏ ra số tiền 5.450.000 đồng để đánh bạc, tiếp đến là Phạm Đình Q có 5.500.000 đồng, Thái Văn B có 5.300.000 đồng, Trần Văn T có 5.100.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Do vậy, Nguyễn Văn H giữ vai trò đầu vụ; tiếp đến Quân, Băng và Thuận giữ vai trò sau Hậu và cuối cùng là Bằng giữ vai trò sau cùng vì chỉ là người mua bài giúp sức chuẩn bị công cụ cho các bị cáo khác chơi bạc.
Về nhân thân: các bị cáo Hậu, Quân, Thuận và Bằng đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Riêng bị cáo Thái Văn B có nhân thân ngày 27/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện C1, tỉnh H xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” đã được xóa án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B1 đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Hậu có bố là ông Nguyễn Văn Dẹ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và mẹ là bà Trần Thị Huỷn có giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, được hưởng chế độ theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ; bị cáo Quân có ông cụ nội là ông Phạm Cự và ông nội là ông Phạm Xuân Vú đều là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo Thuận có bố là ông Trần Văn Nuôi cũng tham gia dân công hỏa tuyến, có bằng khen của UBND tỉnh Hà Tĩnh về chống mỹ cứu nước; bị cáo Bằng sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú và có bố ông Thái Văn Bỉnh tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, được hưởng chế độ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, gia đình các bị cáo đều là người có công với Cách mạng nên xem xét cho các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Thái Văn B quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố là ông Thái Bá Song là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng nhất, nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 15/04/2022, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật.
[6]. Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7]. Về vật chứng vụ án: 01 chiếc chăn, 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ gồm 52 lá bài là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 21.350.000đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 10.000 đồng Thái Văn B1 có từ việc mua hộ 02 bộ bài là tiền do phạm tội mà có, cần truy thu để sung vào ngân sách nhà nước. Quá trình điều tra thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Samsung Note 9; Phạm Đình Q 01 điện thoại di động Vivo; Trần Văn T 01 điện thoại di động Viettel; Thái Văn B 01 điện thoại di động Iphone 7 không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo.
[8]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Quyền kháng cáo: các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Liên quan trong vụ án: anh Thái Ngọc Phương ở trong phòng 302 từ trước, nhưng không biết Hậu, Thuân, Băng, Quân vào phòng lúc nào, không hỗ trợ, không tham gia đánh bạc cùng; các anh Trần Văn Công, Kiều Văn Chương có mặt tại phòng 302 nhưng không tham gia đánh bạc; Trần Văn Ngọc cho Trần Văn T vay 1.000.000đồng nhưng không biết Thuận sử dụng số tiền này để đánh bạc; chị Phạm Thị Hằng cho các bị can thuê phòng nghỉ, nhưng không biết các bị can sử dụng vào việc đánh bạc, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt: bị cáo Phạm Đình Q 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt: bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt: bị cáo Thái Văn B1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Đánh bạc".
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: bị cáo Thái Văn B 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Đánh bạc”.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B, Thái Văn B1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C1, tỉnh H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ 52 lá bài); 01 chăn vải màu xám (kích thước 2.1x2.30) đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 21.350.000đ (hai mươi mốt triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 10.000 đ (mời nghìn đồng) của bị cáo Thái Văn B1.
- - Trả lại: 01 điện thoại di động SamSung Note 9 (điện thoại màu đen, mặt lưng kính vỡ) kèm 01 sim cho bị cáo Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động Viettel màu xanh kèm 01 sim cho Trần Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, mầu hồng kèm 01 sim cho Thái Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen kèm 01 sim cho Phạm Đình Q (các điện thoại đều đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Tình trạng các vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 27/BB-CCTHADS ngày 30/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 539/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 540/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 541/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 542/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 543/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số số 549/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 550/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 551/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 552/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025; số 553/QĐ - VKSVĐ, ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B, Thái Văn B1.
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: buộc Nguyễn Văn H, Phạm Đình Q, Trần Văn T, Thái Văn B, Thái Văn B1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1, 4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hoàng |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H
