|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 12/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Lư Quốc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Để.
- Bà Hồ Thị Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Tòa án nhân dân huyện An Minh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 03/2025/HSST-QĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị N, sinh ngày 03/02/1974; Căn cước công dân số: [...];; Nơi sinh: huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1936 (Đã chết) và Huỳnh Thị X, sinh năm 1937 (Đã chết); chồng: Trần Văn T, sinh năm 1962; anh chị em ruột: Có 07 người, lớn nhất sinh năm 1959, nhỏ nhất sinh năm 1970; con: bị cáo không có con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang và được trả tự do vào cùng ngày 11/10/2022, bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2025 và đến 19/3/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Mai Tấn T1 - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K. (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Trần Văn T, sinh năm 1962. (Chồng của bị cáo, có mặt)
Bị hại: Ông Mai Chí T2, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967. (Ông T2 vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà P vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Mai Hiền Đ, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/10/2022, Nguyễn Hoàng A đến nhà Nguyễn Thị N ở ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, tại đây Hoàng A gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn B đến nhậu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, có Đỗ Văn T3 là anh bà con của Nguyễn Thị N và cháu rể Nguyễn Văn V đến nhà chơi, Nguyễn Thị N nảy sinh ý định dùng sự có mặt của những người này gây áp lực, uy hiếp tinh thần đối với ông Mai Chí T2 để lấy tài sản ông T2 nhằm để trừ nợ, do trước đó, ông T2 thiếu nợ Nguyễn Thị N đã khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện An Minh giải quyết buộc ông T2 phải trả cho Nguyễn Thị N số tiền hơn 90 triệu đồng, vụ việc đang trong giai đoạn thi hành án. Lúc này, Nguyễn Thị N nhờ Hoàng A chở lại nhà ông T2 cách đó khoảng 100m, nhưng Hoàng A đang bận nên nhờ Nguyễn Văn B chở đi, T3 và V cũng đi bộ theo, khi đến nhà ông T2, ông T2 thấy Nguyễn Thị N nên định khóa cửa lại, nhưng Nguyễn Thị N đến giật lấy ổ khóa vòng ra, rồi mở cửa đi vào nhà và nói với ông T2 đến lấy xe để trừ nợ, ông T2 nói ai lấy là chém rồi bỏ đi ra nhà sau, Nguyễn Thị N nhờ Nguyễn Văn B dắt chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 68M1-159.10, nhãn hiệu Honda, loại xe FUTURE FI (của anh M Hiền Đức con của ông T2 giao cho ông T2 quản lý) ra ngoài lộ, rồi dẫn về nhà Nguyễn Thị N. Sau khi xảy ra sự việc, ông Mai Chí T2 trình báo Cơ quan Công an đến lập biên bản, thu giữ tài sản gồm: 01 xe mô tô, biển kiểm soát 68M1-159.10, nhãn hiệu Honda, loại xe FUTURE FI; 01 vỏ tải composite 9,9m; 01 máy xe 3T82 (của anh M Hiền Đức con của ông T2 giao cho ông T2 quản lý) mà trước đó cũng bằng cách thức tương tự Nguyễn Thị N cùng với Hoàng A đã lấy tại nhà ông T2 vào ngày 04/10/2022.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A Nguyễn Thị N thừa nhận hành vi rủ Nguyễn Hoàng A, Đỗ Văn T3, Nguyễn Văn V và Nguyễn Văn B đi theo đến nhà ông Mai Chí T2, nhằm mục đích giúp đỡ về mặt tinh thần, gây áp lực để lấy tài sản của gia đình ông T2 để trừ nợ, khi ông T2 có chống cự, đánh đập thì có những người này can thiệp, nhưng trước khi đi không có nói mục đích đi làm gì, không có bàn bạc, phân công.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐG ngày 09/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận:
- 01 (một) vỏ tải composite; máy xe 3T82 có giá trị là 28.600.000 đồng.
- 25 (hai mươi lăm) cái lú dây có giá trị là 2.949.375 đồng.
Tổng giá trị tài sản cần định giá: 31.549.375 đồng (Ba mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi chín ngàn ba trăm bảy mươi lăm đồng).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 34/KL-HĐĐG ngày 10/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận: 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 68M1-159.10, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE FI có giá trị là 9.780.000 đồng (Chín triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ vật chứng là: 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 68M1-159.10, nhãn hiệu Honda, loại xe FUTURE FI; 01 (một) vỏ tải composite 9,9m; 01 máy xe 3T82, 25 cái lú dây. Sau khi phục vụ công tác định giá tài sản đã trả lại cho người bị hại là ông Mai Chí T2.
Tại bản Cáo trạng số 69/CT-VKS-AM ngày 19/8/2023 và văn bản số 01/VKS-HS ngày 02/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm p, q, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi mức hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả lại vật chứng cho người bị hại nhận xong nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa:
- Do tình trạng bệnh lý và tinh thần không được ổn định nên bị cáo trình bày không rõ ràng nội dung sự việc.
- Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
- Về áp dụng hình phạt, nhận thấy bị cáo do thiếu hiểu biết pháp luật, bị hạn chế về năng lực và nhận thức nên mới thực hành vi vi phạm pháp luật và bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Ông Trần Văn T, đại diện cho bị cáo thừa nhận là bị cáo có đến nhà của ông T2, bà P để lấy tài sản 02 lần do ông T2, bà P thiếu nợ vợ chồng bị cáo đã được Tòa án xét xử nhưng ông T2, bà P không chịu trả nợ. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Do ông Mai Chí T2 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử buộc trả cho bị cáo Nguyễn Thị N và chồng là ông Trần Văn T số tiền 40.104.000đ và 04 chỉ vàng 24k theo Bản án dân sự sơ thẩm 38/2019/DS-ST ngày 06/11/2019 nhưng ông T2 vẫn chưa thực hiện và vụ việc đang trong giai đoạn thi hành án nên khoảng 14 giờ ngày 11/10/2022, bị cáo Nguyễn Thị N nhờ Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn V và Đỗ Văn T3 đi theo đến nhà ông T2 ở ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang nhằm mục đích sử dụng số đông gây áp lực, uy hiếp tinh thần đối với ông T2 để lấy tài sản trừ nợ, tại nhà ông T2 bị cáo Nguyễn Thị N đã chiếm đoạt của ông T2 01 xe mô tô, biển kiểm soát 68M1-159.10, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE FI. Trước đó, cũng bằng cách thức tương tự, vào ngày 04/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị N đã chiếm đoạt của ông T2 01 vỏ tải composite 9,9m; 01 máy xe 3T82, 25 cái lú dây.
Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Thị N chiếm đoạt của ông T2 theo kết luận định giá là 41.329.375₫ (Bốn mươi mốt triệu ba trăm hai mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng). Các tài sản này là tài sản của con ruột ông T2 gửi ông T2 giữ.
Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định bị cáo N đã thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của người bị hại có giá trị tổng cộng là 41.329.375₫ . Từ đó đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Do ông Mai Chí T4 chưa thực hiện việc trả tiền và vàng cho mình theo nội dung Bản án dân sự mà Tòa án đã xét xử, với mục đích mong muốn lấy tài sản của ông T2 để cấn trừ số nợ, bị cáo đã cung cấp thông tin sai sự thật cho những người quen biết với mình để nhờ họ cùng đến nhà ông T2 lấy tài sản về cho mình và bị cáo đã dùng phương thức này đến nhà ông T2 lấy tài sản 02 lần, bao gồm 01 xe mô tô, 01 vỏ tải composite 9,9m; 01 máy xe 3T82, 25 cái lú dây. Tại kết luận Giám định pháp y tâm thần số 108/2025/KLGĐ và Văn bản số: 108.1/PYTTTNB cùng ngày 10/3/2025 của Trung tâm P1 xác định bị cáo bị bệnh lý tâm thần (Chậm phát triển tâm thần nhẹ), trong thời điểm phạm tội và hiện nay bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị cáo vẫn có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Từ diễn biến sự việc xác định được bị cáo có đủ nhận thức để biết được việc mình chiếm đoạt tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của họ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý. Bởi vì trước đó, ông Mai Chí T2 thiếu nợ vàng và tiền của vợ chồng bị cáo không trả, bị cáo đã thực hiện việc khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết và đã được Tòa án giải quyết theo quy định, sự việc đang được giải quyết ở giai đoạn thi hành án đến ngày 07/10/2022 tức là trước ngày bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông Mai Chí T2 thì Cơ quan thi hành án dân sự đã kê biên bán đấu giá tài sản của ông T2 để trả cho bị cáo được số tiền là 8.000.000đ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi phạm tội, để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt sống có ích cho xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy rằng bị cáo có bệnh lý về tâm thần, việc hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bản thân bị cáo là người bị khuyết tật nặng về tầm nhìn nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo một thời gian cũng đủ răn đe đối với bị cáo.
Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét quan điểm của người bào chữa, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhưng trường hợp tội phạm của bị cáo không thỏa mãn các điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.
Đối với những người cùng với bị cáo Nguyễn Thị N đi đến nhà của ông Mai Chí T2 để di chuyển tài sản do ông T2 đang quản lý về nhà của bị cáo là Nguyễn Văn B, Nguyễn Hoàng A, Đỗ Văn T3, Nguyễn Văn C (tên gọi V), do họ không rõ nội dung sự việc và bị bị cáo cố tình cung cấp thông tin không đúng về việc thi hành án đã cưỡng chế giao tài sản của ông T2 cho bị cáo N nên họ có tham gia dịch chuyển tài sản về nhà bị cáo, đồng thời họ cũng không có ý định chiếm đoạt tài sản của ông T2 nên HĐXX không xem xét tính chất đồng phạm của những người này.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị N có một tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết tật đặc biệt nặng được thể hiện tại các Quyết định về trợ cấp xã hội của UBND huyện A, Giấy xác nhận khuyết tật của UBND xã Đ, Tại kết luận Giám định pháp y tâm thần số 108/2025/KLGĐ và Văn bản số: 108.1/PYTTTNB cùng ngày 10/3/2025 của Trung tâm P1 xác định bị cáo bị bệnh lý tâm thần (Chậm phát triển tâm thần nhẹ), trong thời điểm phạm tội và hiện nay bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng các điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện A về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về các vấn đề khác:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
- Về biện pháp tư pháp: Đối với vật chứng của vụ án, sau khi thực hiện định giá tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã trả vật chứng thu giữ trên cho bị hại xong nên không đề cập xử lý
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người khuyết tật đặc biệt nặng và có đơn đề nghị miễn án phí, căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận cho miễn nộp khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000đ đối với bị cáo Nguyễn Thị N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; các p, q, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/6/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về biện pháp tư pháp: Đối với vật chứng của vụ án, sau khi thực hiện định giá tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã trả vật chứng thu giữ trên cho bị hại xong nên không đề cập xử lý.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Chấp nhận cho bị cáo Nguyễn Thị N được miễn án phì hình sự sơ thẩm vụ án.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2025); người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lư Quốc Thịnh |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N về tội Cưỡng đoạt tài sản
