|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 22/2025/HS-ST Ngày: 12-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Sơn
Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lâm Văn T, sinh năm 1983 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Ú; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Lâm Văn A (đã chết) và bà Trần Thị M (đã chết); Vợ: Lương Thị Mỹ K (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: ngày 08/6/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trần Tấn T1, sinh năm 2001; Địa chỉ: Ấp B, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Văn T (tên thường gọi là Ú) và Đinh Công M1, sinh năm 1995, nơi cư trú tại: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước có mối quan hệ quen biết nhau ngoài xã hội. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/10/2024, T đón xe buýt đi từ nhà thuộc khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đến nhà Đặng Văn H, sinh năm 1980 (tên thường gọi "Thầy giáo H") thuộc xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước để mượn tiền về mua thuốc cho con. Khi đến nơi, thì anh H không có ở nhà. Lúc này, ở nhà H có Đinh Công M1 và 02 người thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) đang ngồi chơi nên T vào cùng ngồi chơi đợi H về. Khoảng 20 giờ ngày 20/10/2024, Dương Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1990, nơi thường trủ: Tổ 3, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 93E1-190.51 màu đen cũng đến nhà H ngồi chơi cùng với T. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, không thấy H về nên T mượn xe mô tô biển số 93E1 - 190.51 của C, chở theo M1 về nhà, rồi sau đó M1 sẽ chạy xe về trả lại cho C, thì C đồng ý. Khi đi, T điều khiển xe chở M1 theo đường Q, rẽ vào đường C, thuộc xã A, qua xã T, huyện H rồi đi qua cầu S thuộc xã M. Khi đi đến trước quán B" thuộc ấp F, xã M, thị xã C thì M1 phát hiện xe mô tô loại Exciter 150, màu đen, biển số 93P2 - 259.02 của anh Trần Tấn T1, đang dựng phía trước quán, không có người trông coi. Bên trong quán, anh T1 đang đánh bida cùng anh Lê Nhật T2, Trần Quốc K1. Lúc này, M1 nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của anh T1 mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã dùng 2 tay bóp vào bụng của T và nói "anh quay xe lại", thì T hỏi M1 là "cái gì vậy", M1 nói "anh tấp lại gần chỗ bàn bi da cho em (M1), em mới thấy chiếc xe dựng trước quán bàn bi da, không có người trông coi đề em lây trộm" thì T đồng ý và điều khiển xe đến quán bi da, khi cách xe mô tô của anh T1 khoảng 3m thì dừng xe lại cho M1 xuống xe. Tại đây, M1 nói T đứng ngoài cảnh giới và quay đầu xe hướng ra đường QL14 rồi ngồi trên xe chờ M1. Sau khi quan sát, chỉ thấy 03 người đang tập trung chơi đánh bida bên trong, bên ngoài không có người trông coi. Lúc này, M1 lén lút đến gần xe mô tô của anh T1, dùng 2 tay lấy nón bảo hiểm hiệu K-Racing của anh T1 cất trong giỏ, ngay gần ba ga giữa của xe bỏ xuống đất rồi tay trái giơ lên hướng tay lái xe mô tô của anh T1, tay phải thì giơ lên hướng phần đuôi xe đề dắt trộm xe mô tô của anh T1 thì bị anh Lê Nhật T2 phát hiện truy hô. Lúc này, M1 đứng dậy, bỏ lại xe mô tô chạy ra hướng T đang chờ sẵn, rồi lên xe T chở tẩu thoát ra hướng đường QL 14. Thấy vậy, anh T1 và K1 điều khiến xe mô tô biến số 93P2 - 259.02 của anh T1, còn T2 điều khiển xe mô tô biển số 93B1 - 385.00 của T2 truy đuổi liên tục theo hướng tẩu thoát của T và M1. Khi qua cầu N khoảng 01 km thì T chở M1 rẽ trái theo hướng đường bê tông, chạy thêm 04 km thì do trời mưa, đường trơn, chạy chậm nên T và M1 đã bị anh T1 và K1 đuổi theo kịp, ép xe, thì T không làm chủ được tay lái nên bị té ngã rồi bị anh T1 và K1 khống chế, bắt giữ, còn M1 chạy bộ tầu thoát. Sau đó, anh T1 thông báo Công an xã M đến hiện trường đưa T cùng tang vật về trụ sở Cơ quan Công an để làm việc (Bút lục 128-129; 125-126; 89-92)
Kết luận định giá tài sản số: 47/KLĐG-HĐĐGTS ngày 30/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã C xác định trị giá của 01 xe mô tô biển số 93P2 - 259.02 của anh Trần Tấn T1 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 15.000.000 đồng và 01 nón bảo hiểm hiệu K-Racing của anh Trần Tấn T1 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 600.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản của anh Trần Tấn T1 bị Lâm Văn T và Đinh Công M1 chiếm đoạt là 15.600.000 đồng. (Bút lục 33-35)
Quá trình điều tra đã thu giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu đen xám, biển số 93P2-259.02, số khung: RLCUG0610HY608776, số máy: G3D4E633903 của anh Trần Tấn T1. Sau khi làm rõ nội dung vụ án, Cơ quan điêu tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu.
- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu đen, biển số 93E-190.51, số khung: RLCUG0610HY585635, số máy: G3D4E610773, do Nguyễn Thị Thanh Q, sinh năm 1990, nơi thường trú: Tổ C, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước (vợ của Dương Nguyễn Tuấn C) đứng tên chủ sở hữu. Tối ngày 20/10/2024, C điều khiển xe mô tô trên đến nhà của Đặng Văn H chơi và gặp T. Do có quen biết nên khi T mượn xe để đi về nhà thì C đồng ý. C không biết việc T và M1 đã sử dụng xe mô tô đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra trả lại cho Nguyễn Thị Thanh Q
- Đối với 01 áo mưa, màu xanh, bị rách phần cố; 01 nón bảo hiểm, màu trắng; 01 đối dép, loại dép tổ ong, màu vàng. Số vật chứng trên chuyển sang chi cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành đề quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu. Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra;
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-CT ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị Lâm Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50, khoản 1 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 18 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và sự vắng mặt của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự
[2] Về hành vi phạm tội và tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại quán bida "L" thuộc ấp F, xã M, thị xã C, Lâm Văn T và Đinh Công M1 lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã cùng lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 93P2-259.02 và 01 nón bảo hiểm hiệu K-Racing của anh Trần Tấn T1, có tổng giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 15.600.000 đồng, trong khi đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện bắt giữ. Do vậy, hành vi của Lâm Văn T thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Văn T phạm tội khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lâm Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, trước đó bị cáo đã từng bị xử phạt về tội danh này mà không biết ăn năn, hối cải nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy hiện tại bị cáo là không có việc làm ổn định, không có thu nhập, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra nên HĐXX không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu đen xám, biển số 93P2-259.02, số khung: RLCUG0610HY608776, số máy: G3D4E633903 của anh Trần Tấn T1. Sau khi làm rõ nội dung vụ án, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu là phù hợp.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter 150, màu đen, biển số 93E-190.51, số khung: RLCUG0610HY585635, số máy: G3D4E610773 của chị Nguyễn Thị Thanh Q do Dương Nguyễn Tuấn C cho T và M1 đã sử dụng đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tuy nhiên cả C và chị Q không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh Q là phù hợp.
- Đối với 01 áo mưa, màu xanh, bị rách phần cố; 01 nón bảo hiểm, màu trắng; 01 đối dép, loại dép tổ ong, màu vàng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về các vấn đề khác trong vụ án: Trong vụ án này, xác định đối tượng Đinh Công M1 cùng thực hiện hành vi phạm tội với T. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, M1 đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm nhưng không có kết quả nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách hành vi của M1 để xử lý sau là phù hợp.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50, 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo mưa, màu xanh, bị rách phần cố; 01 nón bảo hiểm, màu trắng; 01 đối dép, loại dép tổ ong, màu vàng
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lâm Văn T phải chịu 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Thị Thu Hà |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố phạm tội
