|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 12 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM – TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Điện và Ông Đào Văn Khanh
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Q - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn B, sinh năm 1959
- Phùng Văn D, sinh năm 1965
- Trịnh Phan Q2, sinh năm 1985
- Nguyễn Văn H, sinh năm 1976
- Nguyễn Văn M, sinh năm 1982
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990
- Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1987
Nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q1 và bà Lê Thị P (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N và 04 con; Tiền án; tiền sự: chưa có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Đ và bà Lê Thị Đ1 (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị L và 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: ngày 28/3/1998, D bị Công an huyện M, tỉnh Hưng Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Làm nhục người khác, hình thức phạt: Cảnh cáo. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Phan D1 (đã chết) và bà Trịnh Thị Đ2; có vợ là Lê Thị D2 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trịnh Thị C; có vợ là Phùng Thị N1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: thôn V, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B1 và bà Đinh Thị B2; Có vợ là Lê Thị T1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Phạm Thị B3; Có vợ là Chu Thị Hải Y và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2; Có vợ là Nguyễn Thị Hồng D3 (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/01/2025, Nguyễn Văn B, sinh năm 1959; Phùng Văn D, sinh năm 1965; Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 và Trịnh Phan Q2, sinh năm 1985 đều ở thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Văn M, sinh năm 1982 ở thôn V, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990 và Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1987 đều ở thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên ngồi uống nước, nói chuyện tại tầng 2 nhà điều hành của X ắc quy số 15 thuộc Công ty TNHH L1 thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, do Nguyễn Văn K, sinh năm 1984 ở thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên làm chủ. Sau đó, tất cả cùng rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, dưới hình thức chơi S thì tất cả đều đồng ý. Khi tham gia đánh bạc, B mang theo số tiền 2.900.000 đồng, D mang theo số tiền 3.100.000 đồng; M mang theo số tiền 2.600.000 đồng; T2 mang theo số tiền 1.300.000 đồng; H mang theo số tiền 3.300.000 đồng; Đ3 mang theo số tiền 1.300.000 đồng; Q2 mang theo số tiền 2.700.000 đồng, tất cả đều xác định sử dụng hết số tiền mang theo vào việc đánh bạc. Sau đó, B là lấy 02 bộ bài tú lơ khơ để trên chiếc thảm hình tròn, màu xám đang trải sẵn ở nền phòng để đánh bạc. Về hình thức đánh bạc: Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, không tính chất, một người chọn 01 quân bài cài ngửa vào giữa bộ bài rồi chia lần lượt cho 04 người đến người nào được chia quân bài ngửa trên thì làm cái và được đánh đầu tiên. Mỗi người chơi được chia 10 lá bài, ai nhất thì đánh trước rồi lần lượt đến các người chơi tham gia đánh bạc theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, ai đánh hết 10 lá bài trước là thắng và ba người chơi còn lại bài trên tay là thua và phải trả tiền cho người thắng với số tiền tương ứng là 5.000 đồng/01 lá bài. Sau khi chia bài xong những người chơi có quyền báo S (B4 đánh hết 10 lá bài và ba người còn lại không ai chặn được), nếu báo sâm thành công, không bị chặn là về nhất và được chia bài, đánh trước ở ván sau thì ba người còn lại mỗi người mất số tiền 80.000 đồng cho người báo S. Trường hợp người báo S bị một trong ba người còn lại chặn được thì người báo S phải mất cho người chặn 80.000 đồng; những người còn lại không mất tiền; người chặn được S sẽ về nhất và được chia bài và đánh trước ở ván sau. Ké cửa là người chơi ngoài 04 người cầm bài đánh ra thì đặt tiền tối đa 50.000 đồng để ké vào cửa của một người chơi để so bài với người đang nhất của ván đó (Nhà cái), khi ván bài kết thúc thì tổng hợp lại 10 lá bài của 02 người này, nếu bài của người được ké cửa nhiều bộ và lớn hơn của người nhất thì người ké cửa được người nhất ván đó trả số tiền tương ứng với số tiền đã đặt cửa, nếu bài nhỏ hơn thì người nhất sẽ được thêm số tiền của người ké cửa đã đặt. Các bộ được thống nhất như sau: Thứ tự lớn dần của các quân bài lần lượt theo thứ lớn dần từ 3 đến 10, J, Q, K, A, 2. “Sáp” là 03 lá bài giống nhau, không cùng chất. “Tứ quý” là 04 lá bài giống nhau, không cùng chất. “Sâm” là các lá bài được xếp theo thứ tự lớn dần, tối thiểu là 03 lá lần lượt từ 3 đến A.
Trong quá trình chơi thì có B, D, M, T2 trực tiếp chơi bài, còn H, Đ3, Q2 ngồi bên cạnh và tham gia chơi ké cửa của những người chơi khác. Trong đó: H 03 lần đánh ké cửa mỗi lần đánh 50.000 đồng (02 ván đánh ké cửa T2, 01 ván đánh ké cửa D); Đ3 có 03 lần đánh ké cửa mỗi lần đánh 50.000 đồng (02 ván đánh ké cửa M, 01 ván đánh ké cửa T2); Q2 có 03 lần đánh ké cửa mỗi lần đánh 50.000 đồng (02 ván đánh ké cửa M, 01 ván đánh ké cửa B). Các bị can chơi đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút thì Tổ công tác của Công an huyện V đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gồm:
- Tại nền phòng trên mặt 01 chiếc thảm hình tròn, màu xám được đặt ở giữa vị trí Bền, D, T2, H, Đ3, M, Q2 đang ngồi đánh bạc thu số tiền 4.200.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh – vàng và 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ - vàng (Mỗi bộ bài có 52 quân bài).
- T3 trên người Nguyễn Văn B số tiền 2.000.000 đồng; T3 trên người Trịnh Phan Q2 số tiền 2.400.000 đồng; T3 trên người Nguyễn Văn H số tiền 2.500.000 đồng; T3 trên người Nguyễn Văn M số tiền 2.000.000 đồng; T3 trên người Phùng Văn D số tiền 2.100.000 đồng; T3 trên người Nguyễn Văn T2 số tiền 1.000.000 đồng; T3 trên người Nguyễn Văn Đ3 số tiền 1.000.000 đồng.
Ngày 10/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà điều hành của xưởng lưu trữ chất thải ắc quy số 15 thuộc Công ty TNHH L1 ở thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, quá trình khám xét, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Đối với số tiền 17.200.000 đồng thu giữ của các bị can, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện V mở tại Kho bạc Nhà nước huyện V để chờ xử lý theo qui định của pháp luật.
Đối với các vật chứng gồm: 01 chiếc thảm hình tròn, màu xám. 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh - vàng và 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ - vàng (Mỗi bộ bài có 52 quân bài), Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập Kho vật chứng Công an huyện V để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1984 ở thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên (Là con đẻ của B) là chủ sở hữu, quản lý xưởng lưu trữ chất thải ắc quy số 15 thuộc Công ty TNHH L1. Quá trình điều tra, xác định anh K không biết sự việc các bị can đánh bạc tại xưởng của mình ngày 10/01/2025 nên không có căn xử lý đối với anh K.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn Bền, Phùng Văn Diền, Trịnh Phan Q2, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị áp dụng:
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Phan Q2.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ3.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Trịnh Phan Q2, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3 đều phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Phan Q2 từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao hai bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Phan Q2 cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3, mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo H, Q2 đều lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo. Riêng bị cáo B, D, M, T2 và Đ3 hình phạt chính áp dụng với bị cáo là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc thảm hình tròn, màu xám; 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh – vàng và 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ - vàng (mỗi bộ bài có 52 quân bài).
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 17.200.000 đồng (mười bẩy triệu hai trăm ngàn đồng).
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trước Cơ quan điều tra và phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đó là các chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai, lời khai của các bị cáo, lời khai của người làm chứng. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 ngày 10/01/2025, tại tầng 2 nhà điều hành của X ắc quy số 15 thuộc Công ty TNHH L1 thuộc thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Nguyễn Văn H, Trịnh Phan Q2, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ3 đã thực hiện hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, dưới hình thức chơi S với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 17.200.000 đồng, sau đó thì bị phát hiện.
Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Trịnh Phan Q2, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng là khách thể được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này có đồng phạm tham gia thực hiện tội phạm, nhưng là dạng đồng phạm giản đơn, các bị cáo lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo trong Công ty đã tụ tập đánh bạc bằng hình thức đánh S sát phạt nhau bằng tiền ở khu vực xưởng lưu trữ chất thải trong Công ty Công ty TNHH L1, xã C. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng với động cơ, mục đích là t lợi cá nhân nên các bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Nếu không phát hiện kịp thời thì dẫn đến khi nhàn rỗi không có việc lại tụ tập đánh bạc, gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng và gây thiệt hại về kinh tế đến gia đình các bị cáo. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo. Song cũng xét thấy trong vụ án này các bị cáo tham gia nhưng số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn, đa số các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều thật thà khai báo và ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình, sẽ áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho một số bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương, còn một số bị cáo sẽ áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền theo Điều 35 Bộ luật hình sự thì cũng đủ tác dụng giáo dục đối với từng bị cáo và làm bài học răn đe chung cho các hành vi tương tự khác xảy ra.
Trong vụ án này vai trò của các bị cáo đều như nhau, cùng tham gia đánh bạc tích cực. Áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Phan Q2. Hai bị cáo nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đều có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Trịnh Phan Q2 có bố là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Giao hai bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.
Đối với các bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3 đều tham gia đánh bạc với vai trò tích cực. Xét nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự (riêng bị cáo Phùng Văn D, năm 1998 có hành vi Làm nhục người khác đã bị Công an huyện M ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, bị cáo đã chấp hành xong, đến nay được xác định bị cáo chưa có tiền án, tiền sự); các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền; bị cáo Nguyễn Văn B có bố là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do các bị cáo bị cáo đều có đơn đề nghị áp dụng hình phạt tiền, vì vậy sẽ áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo thì cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Riêng bị cáo B, D, M, T2, Đ3 hình phạt chính áp dụng với các bị cáo là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng: cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc thảm hình tròn, màu xám; 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh – vàng và 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ - vàng (mỗi bộ bài có 52 quân bài). Đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, sẽ cho tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 17.200.000đ thu tại chiếu bạc và thu trên người các bị cáo. Đây là tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên sẽ tịch thu số tiền này để sung ngân sách Nhà nước.
[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, nộp miễm giảm án phí, lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Trịnh Phan Q2, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3 đều phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Phan Q2.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Phan Q2: mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H và Trịnh Phan Q2 cho UBND xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên nơi các bị cáo cư trú quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3: mỗi bị cáo 35.000.000 (ba mươi năm triệu đồng) đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chiếc thảm hình tròn, màu xám; 01 bộ bài tú lơ khơ màu xanh – vàng và 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ - vàng (mỗi bộ bài có 52 quân bài).
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 17.200.000 đồng (mười bẩy triệu hai trăm ngàn đồng).
Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn B, Phùng Văn D, Trịnh Phan Q2, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn Đ3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo được quyền kháng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Bích Thủy |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM – TỈNH HƯNG YÊN về đánh bạc
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM – TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Bền và đồng phạm - Đánh bạc
