Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAK ĐOA

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST

Ngày: 10 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Thông

Bà Nguyễn Thị Chín;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bưởi - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

HNANG (tên gọi khác: Không); sinh ngày 01-6-2006 tại tỉnh Gia Lai; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; nơi cư trú: thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm nông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông H, sinh năm 1982 và bà M, sinh năm 1987; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 26-11-2020, bị Trưởng Công an xã I, huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức xử phạt “Cảnh cáo”.
  • Ngày 10-8-2021, bị Trưởng Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức xử phạt “Cảnh cáo".

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Bà L; địa chỉ tại thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Anh T; địa chỉ: Làng D, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Đình P; địa chỉ: E B L, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
  • Ông H; địa chỉ tại thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

4. Người tham gia tố tụng khác (người phiên dịch): Ông Y B; địa chỉ: Thôn P, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 23-10-2024, S (sinh năm 2006) rủ HNang qua nhà S tại thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để xem phim rồi ngủ trưa. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, HNang thức dậy, đi ra ngoài thì thấy xe mô tô biển số 81C1-208.52 của chị L (sinh năm 1976, là mẹ của S) đang dựng ngoài sân, chìa khóa đang căm trên ổ khóa xe nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, HNang dắt xe mô tô này đi ra đầu đường bê tông rồi nổ máy điều khiến xe đi về hướng nhà T (sinh năm 2003) tại làng D, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi gặp T, HNang nói đây là xe mô tô của HNang và hỏi T có căn cước công dân không để đi cầm cố xe mô tô này thì Tiên đồng Ý rồi cả hai điều khiến xe mô tô đến tiệm C 3 của anh Nguyễn Đình P (sinh năm 1982) tại E L, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi đến tiệm cầm đồ, N mở cốp xe mô tô thì thấy Giấy đăng ký xe mô tô này nên đã cầm Giấy đăng ký xe cùng Căn cước công dân của T đưa cho anh P để cầm cố với giá 5.000.000 đồng; HNang cho T 400.000 đồng, còn 4.600.000 đồng thì N đã tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 03 ngày sau, do hết tiền nên HNang và T tiếp tục quay lại tiệm C để xin cầm cố thêm số tiền 500.000 đồng, số tiền này, HNang đã tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện xe mô tô bị mất trộm, ngày 24-10-2024, bà L đã làm đơn trình báo cơ quan Công an. Ngày 11-11-2024, tại Công an xã la B, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, HNang đã đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Cùng ngày, qua làm việc, anh Nguyễn Đình P giao nộp xe mô tô biển số 81C1-208.52, Giấy đăng ký xe mô tô và Hợp đồng cầm cố ngày 23-10-2024.

Tại Kết luận định giá tài sản số 124 ngày 4-11-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: 01 Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 81C1-208.52, số khung RLCUE3740LY046145, số máy B32VE150052 (mua tháng 01/2024) trị giá 14.000.000 đồng

Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 2707/KL -KTHS ngày 20-12-2024, Phân viện Khoa học hình sự tại TP . kết luận: Độ tuổi của HNang tại thời điểm giám định (tháng 12/2024) là 18 năm đến 18 năm 06 tháng: Độ tuổi của H1 tính đến thời điểm tháng 10-2024 là từ 17 năm 10 tháng đến 18 năm 4 tháng.

* Vật chứng liên quan trong vụ án gồm:

  • 01 Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 81C1-208.52, số khung RLCUE3740L Y046145, số máy E32VE150052; 01 Giấy đăng ký xe mô tô. Qua điều tra, xác định xe mô tô này thuộc sở hữu của chị L nên sau khi định giá, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chị L
  • 01 Hợp đồng cầm cố ngày 23-10-2024: Đây là chứng cứ thể hiện hành vi phạm tội của bị can nên lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại xe mô tô nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị can đã tác động gia đình trả lại số tiền 5.500.000 đồng cho anh Nguyễn Đình P, anh P không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 17/CT-VKS-H.ĐAK ĐOA ngày 10-3-2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định truy tố bị cáo HNang về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo HNang khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
  • Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo HNang phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
    • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, 91 của Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo HNang từ 6 đến 9 tháng tù.
    • Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 12 giờ ngày 23-10-2024, lợi dụng sơ hở của chị L trong việc quản lý tài sản, HNang đã lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 81C1-208.52 trị giá 14.000.000 đồng của chị L.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đầy đủ năng lực hành vi, hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt là vi phạm pháp luật, tuy nhiên với bản chất lười lao động, nhưng muốn có tiền ăn chơi, tiêu xài nên bị cáo vẫn bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho bị hại mà nghiêm trọng hơn nó còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

  • Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

  • Về hình phạt:

    Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, 2 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về cùng hành vi chiếm đoạt tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học để tự cảnh tỉnh bản thân, do đó, mặc dù được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng, thời điểm phạm tội là người chưa thành niên, nhưng Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ và việc làm đó mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe, cải tạo và giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Các vấn đề khác có liên quan:

  • Đối với anh T: Kết quả điều tra xác định, khi HNang mượn Căn cước công dân của anh T để đi cầm cố xe, anh T không biết xe là do HNang trộm cắp, vì vậy, việc Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với anh T về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là có căn cứ.
  • Đối với anh Nguyễn Đình P: Anh P nhận cầm cố xe nhưng không biết tài sản này là do HNang phạm tội mà có, nên việc Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với anh P về hành vi này, là có căn cứ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo HNang phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên;

    Xử phạt bị cáo HNang 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo H2 phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 10-4-2025), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai
  • - VKSND huyện Đak Đoa;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT- CA tỉnh Gia Lai;
  • - THADS huyện Đak Đoa;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu HS, THS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 12 giờ ngày 23-10-2024, lợi dụng sơ hở của chị Lon trong việc quản lý tài sản, HNang đã lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 81C1-208.52 trị giá 14.000.000 đồng của chị Lon. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger