|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc — |
|
Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 08-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Ông Trần Phước Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Lê Hoàng N; sinh ngày: 09/8/2006; nơi sinh: huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: nam; con của bà Lê Bé G, sinh năm 1982; vợ, con: không; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L (có mặt tại phiên tòa).
- Lê Bé G; sinh ngày: 01/01/1982; nơi sinh: huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: nữ; con của ông Lê Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị E, sinh năm 1949; chồng: không; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 26/LC-ĐTTH ngày 15/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Long An (có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị Thùy T1 (đã chết):
- Bà Ngô Thị Hồng M, sinh năm: 1980; nơi cư trú: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).
- Ông Lê Ảnh H, sinh năm: 1973; nơi cư trú: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt có lý do chính đáng).
Người làm chứng:
- Anh Lê Thanh D, sinh năm: 2006; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 2005; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Bé G biết rõ Lê Hoàng N (con ruột của G) chưa đủ 18 tuổi và không có Giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Tuy nhiên, G vẫn đồng ý mua xe mô tô và giao xe cho N điều khiển và gây tai nạn giao thông. Cụ thể: Vào ngày 21/5/2024, G cùng N đến cửa hàng xe gắn máy Thoại P, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang mua 01 xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, số loại FU150 RAIDER, biển số 62G1-286.24, số khung: RLSDL11ANJV109063, số máy: CGA1509117, dung tích 147cm³, loại xe côn tay (xe đã qua sử dụng) và trực tiếp giao cho N quản lý và sử dụng làm phương tiện đi lại hằng ngày. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/6/2024, N điều khiển xe mô tô trên chở Lê Thị Thùy T1 ngồi phía sau lưu thông trên đường đan bờ đông Kênh Phụng T2 theo hướng từ tỉnh lộ 837A đến tỉnh lộ 837B. Khi đến đoạn đường cong thuộc ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An, N điều khiển xe mô tô với tốc độ cao và không chú ý quan sát phía trước nên không làm chủ được tay lái, té ngã xuống mép đường bên phải, đầu xe mô tô đụng vào gốc cây tràm (cây xanh) bên lề đường bên phải, T1 té ngã xuống lề đường. Cùng lúc này, có Nguyễn Thành Đ điều khiển xe mô tô chở Lê Thanh D lưu thông đến nhìn thấy N và Trang bị té xe nên dừng xe lại. Khi thấy T1 bị bầm và sưng ở cẳng chân trái nên N nhờ Đ và D đưa T1 về nhà. T1 sợ cha mẹ của T1 phát hiện vừa bị té xe nên T1 kêu Đ chở T1 về nhà của Đ ở ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An để nghỉ, còn N điều khiển xe mô tô đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Phúc Q, địa chỉ tại khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An để sửa xe mô tô do xe mô tô bị cong chãng ba, bể đầu đèn trước, cong phuộc trước. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T1 nhờ Đ chở T1 về nhà của T1 ở ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Long An để nghỉ ngơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T1 mệt và đau cẳng chân trái nhiều nên nói với bà Ngô Thị Hồng M và ông Lê Ảnh H (cha, mẹ ruột của T1) là N điều khiển xe mô tô chở T1 bị té xe nên T1 bị đau ở cẳng chân trái. Lúc này, bà M và ông H chở T1 đến Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Long An cấp cứu và chụp X Q1 phát hiện T1 bị gãy kín 1/3 giữa xương chày trái nên gia đình đưa T1 đến Bệnh viện C cấp cứu và điều trị thương tích. Tuy nhiên, đến ngày 07/6/2024 thì T1 tử vong.
Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 428/KLGĐTT-KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Lê Thị Thùy T1: Nhồi máu cơ tim cấp. Thuyên tắc động mạch vành và mạch máu trong tim do huyết khối biến chứng của gãy kín 1/3 giữa xương chày cẳng chân trái đã được nẹp bột đùi cẳng bàn chân trái.
Tại Công văn số 1514/CAT-PC09 ngày 10/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L về việc giải trình pháp y đối với nguyên nhân tử vong của Lê Thị Thùy T1 như sau: Nhồi máu cơ tim cấp. Thuyên tắc động mạch vành và mạch máu trong tim do huyết khối biến chứng của gãy kín 1/3 giữa xương chày cẳng chân trái đã được nẹp bột đùi cẳng bàn chân trái; Cơ chế chấn thương: Do cơ thể tiếp xúc trực tiếp với vật tày có tiết diện rộng và ngược lại; Tổn thương này xảy ra trước chết.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSBT ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh đã truy tố bị cáo Lê Hoàng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Bé G về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264 các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Bé G hình phạt từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo;
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, khoản 1 Điều 54, 65, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng Nhân T3 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị hại T1 không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: đề nghị trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Raider, biển số 62G1-286.24 số máy CGA1509117, số khung RLSDL11ANJV109063, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị cáo Lê Bé G.
Ý kiến người đại diện hợp pháp của bị hại: các bị cáo đã bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền 50.000.000 đồng, hiện nay đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm; về trách nhiệm hình sự đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo thống nhất với toàn bộ nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo mới phạm tội lần đầu, do vô ý, đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
Về sự vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng tại phiên tòa: người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lê Ảnh H, cha của bị cáo vắng mặt do đang điều trị bệnh tại bệnh viện, hồ sơ vụ án cũng đã có đầy đủ lời khai của ông H và đã có văn bản thể hiện ý chí của ông ủy quyền cho vợ là bà Ngô Thị Hồng M (mẹ của bị hại); đối với những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã lấy lời khai của những người này, họ cũng đã có đơn đề nghị vắng mặt nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
[2] Về tội danh:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Bé G, Lê Hoàng N đã khai nhận: Lê Bé G biết rõ Lê Hoàng N (con ruột của G) không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định nhưng vẫn mua và giao cho N trực tiếp quản lý và sử dụng 01 xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, số loại FU150 RAIDER, biển số 62G1-286.24, số khung: RLSDL11ANJV109063, số máy: CGA1509117, dung tích 147cm³ làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 14 giờ ngày 02/6/2024, N điều khiển xe mô tô trên, chở Lê Thị Thùy T1 ngồi phía sau, lưu thông trên đường bê tông thuộc bờ đông K, xã T, huyện T theo hướng từ Tỉnh lộ 837A đến Tỉnh lộ 837B, do N điều khiển xe mô tô lưu thông với tốc độ cao và không chú ý quan sát phía trước nên khi lưu thông đến đoạn đường cong thuộc ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An, N không làm chủ được tay lái, N đã điều khiển dẫn đến xe mô tô té ngã xuống mép đường bên phải theo hướng đi đụng vào gốc cây xanh (cây tràm) bên lề đường bên phải. Hậu quả làm T1 té ngã xuống lề đường bên phải và bị gãy kín 1/3 giữa xương chày cẳng chân trái. Sau đó, đến ngày 07/6/2024, T1 đã bị tử vong do bị nhồi máu cơ tim cấp, thuyên tắc động mạch vành và mạch máu trong tim do huyết khối biến chứng của gãy kín 1/3 giữa xương chày cẳng chân trái đã được nẹp bột đùi cẳng bàn chân trái.
Hành vi của Lê Hoàng N đã vi phạm khoản 9 và khoản 23 Điều 8 Văn bản hợp nhất Luật giao thông đường bộ số 15/VBHN-VPQH ngày 05/7/2019, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông, làm chết 01 người.
Hành vi của Lê B Gái biết rõ Lê Hoàng N không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ nhưng vẫn mua và giao xe cho N trực tiếp sử dụng dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả chết 01 người. Hành vi của Lê Bé G đã vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Lê Hoàng N đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lê Bé G đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ ảnh hưởng xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
[3.1] Về tính chất, mức độ ảnh hưởng xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo xâm phạm hoạt động quản lý của Nhà nước về lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ; ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo Lê Thị Bé G là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải hiểu được rằng việc giao xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ là hành vi vi phạm pháp luật nhưng do thiếu hiểu biết, học vấn hạn chế, đồng thời bị cáo chủ quan nên bị cáo đã phạm tội. Đối với bị cáo Lê Hoàng N, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa thành niên nhưng có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ bản thân không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe mô tô có phân khối lớn tham gia giao thông, gây tai nạn giao thông dẫn đến chết 01 người. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[3.2] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, các bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, xét thấy người dại diện theo pháp luật của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo Lê Bé G có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.3] Về nhân thân: các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[4] Về quyết định hình phạt đối với các bị cáo:
[4.1] Đối với bị cáo Lê Hoàng N: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa thành niên; bị cáo có nhân thân tốt, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo đủ điều kiện quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo vô ý phạm tội; trong thời gian tạm giam cũng đã đủ để răn đe, trừng phạt đối với bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy bị cáo đủ điều kiện được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng án treo cũng có thể giúp bị cáo tự cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
[4.2] Đối với bị cáo Lê Bé G: bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, lỗi vô ý; bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập:
Bị cáo Lê Hoàng N phạm tội khi chưa thành niên; bị cáo không có nghề nghiệp, công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo Lê Bé G không có công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo đã thoả thuận và thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường cho bị hại. Hiện nay bị hại không có yêu cầu gì thêm.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Raider, biển số 62G1-286.24 số máy CGA1509117, số khung RLSDL11ANJV109063, đã qua sử dụng. Bị cáo phạm tội do chủ quan, lỗi vô ý nên cần trả lại tài sản cho bị cáo Lê Thị B Gái theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tuyên bố bị cáo Lê Bé G phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 264; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, các điều 38, 50, 65, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng N 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Hoàng N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
2.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Bé G 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An nhận được bản án và quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lê Bé G cho Ủy ban nhân dân xã T phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của khoản 2 Điều 47; Điều 48 luật Hình sự; Luật thi hành án hình sự.
2.3. Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Hoàng N; miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Bé G;
3. Về xử lý vật chứng:
Tuyên trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Raider, biển số 62G1-286.24 số máy CGA1509117, số khung RLSDL11ANJV109063, đã qua sử dụng cho bị cáo Lê Thị Bé G.
Hiện các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKSTT ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
4. Về án phí:
căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Thị Bé G, Lê Hoàng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
căn cứ các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.\
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 22/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về hình sự
- Số bản án: 22/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng N phạm tội "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; Lê Bé G phạm tội "giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ"
