Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 22/2025/HS-PT

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung;

Bà Lê Thị Hạng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Phan Ngọc T và Hứa Chí H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phan Ngọc T, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1984 tại Khánh Hoà; Nơi thường trú: Số A đường B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Hùng C, sinh năm 1954 (chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; Vợ Phan Thị Tuyết T1, sinh năm 1993, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2018;

Tiền án: Bản án số 239A/2008/HSST ngày 26/9/2008, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại tài sản”, thời gian thử thách 36 tháng. Chấp hành xong phần án phí ngày 12/6/2024;

Tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Hứa Chí H, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2004 tại Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phan H1, sinh năm 1984 và bà Hứa Thị H2, sinh năm 1984; Vợ Trần Thị Hà T2, sinh năm 2004; Con sinh ngày 10/12/2024;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Xuân T3 không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 20/11/2023 đến ngày 16/01/2024, Nguyễn Xuân T3 liên tiếp thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã N, tỉnh Khánh Hòa:

Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/11/2023, tại tổ dân phố I Đ, N, N, Nguyễn Xuân T3 đi bộ trên đường bê tông thì nhìn thấy xe mô tô hiệu Sirius biển số 79H1-150.36 của ông Trần Minh H3 đang để ở lề đường, có gắn chìa khóa, không người trông coi thì nảy sinh ý định chiếm đoạt. T3 mở khoá, nổ máy điều khiển xe mô tô đi bán với giá 3.200.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 06/12/2023, Nguyễn Xuân T3 đi bộ đến tổ dân phố F B, N, N thì nhìn thấy xe mô tô biển số 79L3-9550 của ông Trịnh Thanh T4 để trên đường bê tông, trước nhà, trên xe có gắn chìa khóa. Lợi dụng lúc không ai quản lý tài sản, T3 mở khóa xe mô tô và điều khiển đi bán lấy 500.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ ngày 08/12/2023, Nguyễn Xuân T3 đi bộ vào đường hẻm ở B, N, N. Thấy xe mô tô biển số 79H1-384.71, số máy 5C6H123458, số khung RLCS5C6H0FY123445 của bà Nguyễn Trần Thanh L đang để trước nhà bà Trương Thị H4, xung quanh không có người thì nảy sinh ý định trộm cắp. T3 lén lút dắt xe mô tô trên đến chỗ vắng người rồi tìm dây điện đấu nối bình ắc quy đề nổ xe, điều khiển đến cửa hàng xe máy “Tài Trinh” ở địa chỉ B T thuộc B, N, Ninh H5 nói xe mô tô của mẹ và bán cho Phan Ngọc T là chủ cửa hàng lấy 2.600.000 đồng. T3 dùng số tiền tiêu xài cá nhân, đến khi bị Công an phát hiện mời đến làm việc, T3 đã nộp số tiền còn lại là 1.100.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Phan Ngọc Tài B với người làm thuê là Hứa Chí H, nghi ngờ xe mô tô biển số 79H1-384.71 là tài sản trộm cắp nên T bảo H tháo rời các phụ tùng xe mô tô ra nhằm tẩu tán tài sản. Sau khi H tháo rời các bộ phận xe thì T dùng máy mài cà xóa số khung, số máy của xe mô tô trên. Đến 16 giờ cùng ngày, Công an phường N đến kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ các bộ phận của xe mô tô biển số 79H1-384.71.

Vụ thứ tư: Lúc 14 giờ 30 ngày 16/01/2024, ông Huỳnh Văn H6 điều khiển xe mô tô biển số 79F8-4403 đến khu vực ruộng muối thuộc P, N, N để xe trong trại, bỏ 01 nhẫn vàng vào cốp xe, đậy yên xe xuống rồi ra ngoài làm việc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Xuân T3 thấy xe của ông H6 có cắm sẵn chìa khóa, không ai trông coi thì nảy sinh ý định trộm cắp. T3 mở khóa đề xe nổ rồi điều khiển đến cửa hàng sửa xe máy của ông Phùng M ở Tổ dân phố A, N, N; T3 nói với ông M là xe mô tô của gia đình và cầm thế cho ông M lấy 700.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N xác định: Xe mô tô biển số 79H1-150.36 có giá trị 6.000.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N: Xe mô tô biển số 79H1-384.71 đã qua sử dụng có giá trị là 7.000.000 đồng;

Bản kết luận giám định số 118/2024/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: “Mẫu vật giám định có số khung và số máy bị tác động cơ học, mài mòn, tẩy xóa, sau giám định đã tái hiện được số máy và số khung nguyên thủy - số máy nguyên thủy: 5C6H123458, số khung nguyên thuỷ: RLCS5C6H0F Y123445".

Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N: Xe mô tô 79L3-9550 đã qua sử dụng có giá trị là 2.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N: Xe mô tô biển số 79F8-4403 có giá trị 1.500.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N: 01 chiếc nhẫn vàng 01 chỉ 07 phân 06 ly hàm lượng vàng 61% trị giá 5.632.000 đồng; đối với 16 viên đá màu trắng và 01 viên đá màu đen đính trên nhẫn không có giá trên thị trường Hội đồng định giá tài sản từ chối định giá.

Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2024/HSST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm b, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hứa Chí H 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Ngày 20/11/2024, Phan Ngọc T và Hứa Chí H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của bị cáo Phan Ngọc T và Hứa Chí H trong thời hạn nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với kháng cáo của các bị cáo, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: đã bồi thường, phạm tội gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm b, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (áp dụng cho bị cáo T) và điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (áp dụng cho bị cáo H), xử phạt bị cáo Phan Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, xử phạt bị cáo Hứa Chí H 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt đối với các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội và không nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Phan Ngọc T và Hứa Chí H.

- Bị cáo Phan Ngọc T và bị cáo Hứa Chí H đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Phan Ngọc T và Hứa Chí H trong thời hạn quy định của pháp luật nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phan Ngọc T và Hứa Chí H đã khai nhận hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/11/2023 đến ngày 16/01/2024, Nguyễn Xuân T3 liên tiếp thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã N với tổng giá trị là 22.132.000 đồng. Trong số các tài sản mà T3 trộm cắp có 01 xe mô tô biển số 79H1-384.71 có giá trị là 7.000.000 đồng đã được Phan Ngọc T mua với số tiền 2.600.000 đồng vào ngày 08/12/2023. Phan Ngọc T và Hứa Chí H biết xe mua được là tài sản do trộm cắp mà có nên đã tháo rời các bộ phận, cà xóa số khung, số máy của xe mô tô nhằm tẩu tán nhưng bị phát hiện.

Hành vi của Phan Ngọc T và Hứa Chí H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo Phan Ngọc T và Hứa Chí H:

[3.1] Đối với bị cáo Phan Ngọc T: Bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự và có mức hình phạt là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã bồi thường thiệt hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm b, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có ông nội là liệt sỹ và được tặng thưởng huân chương chiến công hạng 3 nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Ngọc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên cần thiết áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Ngọc T.

[3.2] Đối với bị cáo Hứa Chí H: Bị cáo bị cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Cơ quan điều tra thị xã N chưa chứng minh và làm rõ việc bị cáo H tiêu thụ hai xe mô tô biển số 79H1-150.36 và 79L3-9550 nên không có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng cho bị cáo H là không chính xác và gây bất lợi cho bị cáo. Việc chưa chứng minh được tội phạm là thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng nên không thể căn cứ vào lý do này để gây bất lợi cho bị cáo. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giáo dục bị cáo cũng có thể trở thành công dân tốt. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hứa Chí H.

Do kháng cáo của bị cáo T và H được chấp nhận nên cần phải sửa bản án sơ thẩm số 90/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp và đúng quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Ngọc T và Hứa Chí H, sửa bản án sơ thẩm.

[1.1] Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Ngọc T. Xử phạt bị cáo Phan Ngọc T 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[1.2] Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Chí H. Xử phạt bị cáo Hứa Chí H 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Hứa Chí H cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND TX, Ninh Hòa;
  • - VKSND TX, Ninh Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục THA dân sự thị xã Ninh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự

  • Số bản án: 22/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Ngọc Tài + ĐP tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger