Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 22/2025/HS-PT

Ngày: 20-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam.

Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Thanh và ông Trần Hưng Bính.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Đăng C và Nguyễn Đăng T do có kháng cáo của các bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số: 320/2024/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ).

- Các Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Đăng C; sinh ngày 21 tháng 4 năm 1993 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Tổ dân phố A, phường H, quận P, thành phố H); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đăng C1 bà Nguyễn Thị Á; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 20/10/2023 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng, theo Quyết định số 102/QĐ-XPHC ngày 31/10/2023 (đã nộp xong ngày 06/11/2023); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/12/2024 cho đến khi kết thúc phiên toà phúc thẩm; có mặt.
  2. Nguyễn Đăng T, sinh ngày 21 tháng 4 năm 1993 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Tổ dân phố A, phường H, quận P, thành phố H); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đăng D bà Nguyễn Thị L; có vợ: Nguyễn Thị Tường V và có 01 người con sinh năm 2019; tiền án: Không;

        tiền sự: Ngày 20/10/2023 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng, theo Quyết định số 100/QĐ-XPHC ngày 31/10/2023 (đã nộp xong ngày 06/11/2023); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/12/2024 cho đến khi kết thúc phiên toà phúc thẩm; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng C: Ông Dương Văn P, Luật sư của Công ty TNHH MTV H1. Địa chỉ: F N, quận T, thành phố H; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Đăng C và Nguyễn Đăng T có quan hệ họ hàng và cùng làm kinh doanh với nhau. Do cuối năm 2023 cần tiền để thanh toán tiền thuê nhà xưởng, trả tiền hàng và C có xe ô tô hiệu Hyundai Creta BKS 75A-291.30, màu trắng nên cả hai bàn bạc, thống nhất làm giả giấy đăng ký xe ô tô BKS 75A-291.30 để đi cầm cố, vay số tiền 300.000.000 đồng. Xe ô tô BKS 75A-291.30 do C mua vào khoảng tháng 10 năm 2022 theo hình thức trả góp, hiện đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 chi nhánh tỉnh T (V2) và giấy đăng ký xe ô tô do Ngân hàng giữ nên không thể cầm cố, thế chấp được ở nơi khác. C nói T lên mạng tìm đặt mua giấy đăng ký xe ô tô giả. Ngày 25 tháng 01 năm 2024, T sử dụng ứng dụng mạng xã hội facebook liên hệ với người làm giả giấy tờ (hiện chưa xác định được nhân thân) để đặt làm giả giấy đăng ký xe ô tô BKS 75A-291.30 thì người này yêu cầu T cung cấp hình ảnh giấy đăng ký xe ô tô và báo giá là 550.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27 tháng 01 năm 2024, có người shipper liên lạc với C để giao hàng và C đưa số tiền là 550.000 đồng.

Sáng ngày 29 tháng 01 năm 2024, C điều khiển xe ô tô BKS 75A-291.30 cùng với em ruột là Nguyễn Đăng T1 và Nguyễn Văn L1 đi đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Quốc A của bà Lê Thị Như H để cầm xe ô tô, vay số tiền 300.000.000 đồng. Sau đó, bà H nói với nhân viên là anh Cao Lê Quang D1 đi cùng với C đến Văn phòng C2, thành phố H để nhờ kiểm tra giúp giấy vay tiền, qua kiểm tra máy soi chiếu ở Văn phòng C3 phát hiện giấy đăng ký xe ô tô BKS 75A-291.30 là giả nên bà H đã điện thoại trình báo sự việc cho Công an phường T giải quyết.

- Tại Kết luận giám định số 305/KLGĐ-KTHS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Chứng nhận đăng ký xe ô tô” cần giám định ký hiệu A là “Chứng nhận đăng ký xe ô tô" giả.

- Về vật chứng, tài liệu, đồ vật thu giữ gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 291.30, số 75016725 mang tên Nguyễn Đăng C, số máy G4FLNQ138993, số khung MF3PB812EPJ035143 do Phòng C4 Công an tỉnh T cấp ngày 27/10/2022 được làm giả.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2024/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng C và bị cáo Nguyễn Đăng T phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng C 03 (ba) tháng tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng T 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đăng T có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và Nguyễn Đăng C có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đăng C: Anh Dương Văn P đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và áp dụng hình phạt Tiền hoặc Cải tạo không giam giữ cho bị cáo C.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định và hợp pháp; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt các bị cáo Nguyễn Đăng T 03 tháng tù, Nguyễn Đăng C 03 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ hình phạt mới. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Đăng C, Nguyễn Đăng T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đã có cơ sở kết luận:

        C có mua chiếc xe ô tô hiệu Hyundai Creta BKS 75A-291.30 vào khoảng tháng 10 năm 2022 theo hình thức trả góp, hiện đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 chi nhánh tỉnh T (Nay là thành phố H). Giấy đăng ký xe ô tô do Ngân hàng giữ nên không thể cầm cố, thế chấp được ở nơi khác. Do cần tiền để thanh toán tiền thuê nhà xưởng, trả tiền hàng nên Nguyễn Đăng C, Nguyễn Đăng T đã bàn bạc thống nhất lên mạng tìm đặt mua giấy đăng ký xe ô tô giả. Ngày 25 tháng 01 năm 2024, T sử dụng ứng dụng mạng xã hội facebook liên hệ với người làm giả giấy tờ để đặt làm giả giấy đăng ký xe ô tô BKS 75A-291.30. Sáng ngày 29/1/2024 C điều khiển xe ô tô BKS 75A-291.30 đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Quốc A của bà Lê Thị Như H để cầm xe ô tô vay tiền thì bị phát hiện sử dụng giấy đăng ký xe ô tô giả.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án các bị cáo Nguyễn Đăng T và Nguyễn Đăng C về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của Nguyễn Đăng T và Nguyễn Đăng C, Hội đồng xét xử thấy rằng:

        Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; cụ thể: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo 03 tháng tù là mức thấp nhất của hình phạt tù. Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm được các tình tiết mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

        Xét kháng cáo xin hưởng án treo của Nguyễn Đăng C, thấy rằng: Bị cáo C có nhân thân xấu, bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng, theo Quyết định số 102/QĐ-XPHC ngày 31/10/2023, nên bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo C.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đăng T và Nguyễn Đăng C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đăng T, Nguyễn Đăng C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh thừa Thiên Huế (cũ).

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng T và Nguyễn Đăng C phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, xử phạt:
    • Bị cáo Nguyễn Đăng C 03(ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
    • Bị cáo Nguyễn Đăng T 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm:
    • Bị cáo Nguyễn Đăng C phải chịu 200.000 đồng.
    • Bị cáo Nguyễn Đăng T phải chịu 200.000 đồng.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND TP Huế;
  • - Phòng PV06 CA TP Huế;
  • - TAND Quận Phú Xuân;
  • - VKSND Quận Phú Xuân;
  • - Cơ quan THA Hình sự Công an TP Huế;
  • - Chi cục THADS Quận Phú Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HSVA; Tổ HCTP; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hữu Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự phúc thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 22/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo làm giả giấy đăng ký xe ô tô BKS 75A-29.XXX để đi cầm cố, vay số tiền 300.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger