Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-PT

Ngày 11 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Na .

Các Thẩm phán: Bà Nông Biên Hòa và ông Hoàng Văn Thụ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nông Xuân Trúc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Đức T và đồng phạm do có kháng cáo của ông Dương Trung H là người đại diện hợp pháp của các bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 173/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Các bị cáo (không có kháng cáo):

  1. Lê Đức T (tên gọi khác: Lê Đức T1), sinh ngày 21 tháng 9 năm 1966 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

    Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức C, sinh năm 1937 (đã chết năm 1982); con bà Đường Thị S, sinh năm 1945 (nơi cư trú: Tổ I, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 01; có vợ là Bùi Thị H1 (tên gọi khác: Bùi Thị T2), sinh năm 1967 (nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 05/6/2023 đến ngày 26/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, (có mặt).

  2. Nguyễn Đức Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 16 tháng 4 năm 1970 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

    Nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Viên chức; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Q (đã chết năm 2022); con bà Nông Thị S1 (đã chết năm 2018); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 01; có vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1975 (nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 05/6/2023 đến ngày 01/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, (có mặt).

  3. Nguyễn Thành D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15 tháng 02 năm 1987 tại phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

    Nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Công chức; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 1959; con bà Hoàng Thị B, sinh năm 1962 (cùng trú tại: tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01; có vợ là Hoàng Ngọc M, sinh năm 1989 (nơi cư trú: tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 05/06/2023 đến ngày 01/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, (có mặt).

  4. Nông Thị N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23 tháng 10 năm 1970 tại thị trấn T, huyện N, tỉnh Cao Bằng.

    Nơi cư trú: Tổ C, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Viên chức; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn K (tên gọi khác: Nông Duy H2), sinh năm 1939 (đã chết); con bà Hoàng Thị D1, sinh năm 1944 (đã chết); gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 03; có chồng là Triệu Văn C1, sinh năm 1970 (nơi ở hiện tại: Đồn Biên phòng C3, huyện B, tỉnh Cao Bằng); bị cáo có 01 con, sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 06/9/2023 đến nay, (có mặt).

  5. Mã Thúy H3 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07 tháng 5 năm 1968 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

    Nơi cư trú: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Công chức; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mã Quốc B1 (đã chết năm 2019); con bà Nông Thị C2 (đã chết năm 1993); gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 04; có chồng là Chu Văn N1 (đã chết năm 2015); bị cáo có 01 con, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 06/9/2023 đến nay, (có mặt).

- Bị hại:

  1. Trương Thị N2 - sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (đã chết).
  2. Cháu Dương Yến N3 - sinh ngày 06 tháng 10 năm 2018; nơi cư trú: Tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (đã chết).
  3. Cháu Dương Anh Đ1 - sinh ngày 12 tháng 10 năm 2021; nơi cư trú: Tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của Trương Thị N2, Dương Yến N3, Dương Anh Đ1: Ông Dương Trung H, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Dương Trung H: Ông Vương Bá H4 – Luật sư Văn phòng Luật sư Vương Bá H4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C; địa chỉ: Số nhà E, tổ G, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020 Lê Đức T (tên gọi khác: Lê Đức T1; sinh năm 1966; Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 03 (ba) thửa đất số 154, 155, 156, đều thuộc tờ bản đổ số 52 tại tổ D, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Đến tháng 5/2021, T lập hồ sơ xin cấp phép xây dựng công trình kè chắn đất đối với 03 (ba) thửa đất trên. Ngày 01/6/2021, T được Ủy ban nhân dân thành phố C (ba) Giấy phép xây dựng có thời hạn (sử dụng cho công trình kè chắn đất) số 217/2021/GPXD, số 218/2021/GPXD và số 219/2021/GPXD đối với 03 (ba) thửa đất số 154, 155, 156 có các thông tin:

  • Loại công trình: kè chắn đất;
  • Cấp công trình: Cấp IV;
  • Cốt công trình (theo hồ sơ thiết kế):
    • + Cốt móng kè: -2m so với cốt nền đất tự nhiên;
    • + Cốt đỉnh kẻ: +4,5m so với cốt nền đất tự nhiên.
  • Chiều dài tuyến kè (theo hồ sơ thiết kế): 53,84m (20,94m + 5,58m + 27,32m);

Tháng 8/2021, T thuê Vi Văn H5 (sinh năm 1979; trú tại: Tổ B, phường D, thành phố C) xây dựng công trình kè đá với giá khoảng 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Quá trình xây dựng Họ không xem bản thiết kế công trình, mọi thông số xây dựng do T chỉ đạo H5 và nhóm thợ thực hiện. Theo hồ sơ thiết kế móng kè rộng 2,2m, cao 2m nhưng T chỉ đạo nhóm thợ xây làm móng kè rộng khoảng 2,5 - 2,6m, cao gần 4m. Sau khi xây móng kè thì bắt đầu tiến hành cho xây thân kè. Theo hồ sơ xin cấp phép xây dựng thì kè đá cao 6,5m (móng kè 2m, thân kè 4,5m), khi xây hết độ cao được cấp, phần kè đá vẫn thấp so với mặt đường Quốc lộ 4A nên T đã chỉ đạo thợ xây kè cao lên thêm khoảng 3m để ngang với mặt đường.

Đến tháng 12/2021 công trình kè đá hoàn thành, T đã nhiều lần đổ và san gạt đất vào trong kè đá rồi chỉ đạo nhóm thợ xây thêm một hàng tường gạch ở phía trên kè, sự việc trên đã được Nguyễn Thành D (sinh năm 1987; Trú tại: tổ A, phường H, thành phố C) là Công chức địa chính xây dựng Ủy ban nhân dân phường D, thành phố C và Nguyễn Đức Đ (Sinh năm 1970; trú tại: tổ A, phường H, thành phố C) là Viên chức Đội quản lý trật tự đô thị - Ủy ban nhân dân thành phố C phát hiện nhưng Đ và D chỉ nhắc nhở, yêu cầu T tháo dỡ hàng gạch mà không lập biên bản vi phạm. Từ khi công trình kè chắn đất của Lê Đức T khởi công xây dựng cho đến khi hoàn thành, Nguyễn Thành D và Nguyễn Đức Đ đã tiến hành kiểm tra nhưng những lần kiểm tra đều không đo kích thước và lập biên bản kiểm tra công trình.

Ngày 17/01/2022 Dương Trung H (sinh năm 1992; Trú tại: tổ D, phường D, thành phố C) có đơn trình báo gửi Ủy ban nhân dân (UBND) phường D phản ánh về việc kè đá của T có hiện tượng rạn, nứt, có nguy cơ đổ sập vào nhà H. Sau khi tiếp nhận đơn, Nông Thị N (sinh năm 1970; trú tại: tổ C, phường D, thành phố C) là Chủ tịch UBND phường D đã phân công Mã Thúy H3 (sinh năm 1968; trú tại: tổ H, phường S, thành phố C) là Công chức địa chính xây dựng phường trực tiếp tham mưu, giải quyết đơn của H. Ngày 18/01/2022 UBND phường D thành lập tổ công tác kiểm tra công trình kè đá của Lê Đức T, thành phần buổi làm việc theo biên bản gồm:

  1. Bà Nông Thị N - Chủ tịch UBND phường D;
  2. Bà Mã Thúy H3 - Công chức địa chính xây dựng UBND phường D;
  3. Ông Nguyễn Thành D - Công chức địa chính UBND phường D;
  4. Ông Nguyễn Đức Đ - Viên chức Đội quản lý trật tự đô thị - UBND thành phố C;
  5. Bà Trương Thị N2 (vợ ông Dương Trung H);
  6. Ông Lê Đức T.

Nội dung Biên bản không thể hiện số đo kích thước của công trình kè đá nhưng tổ công tác vẫn kết luận: chiều cao, chiều rộng kè đá xây đúng theo kích thước thiết kế, kè đã được hoàn thiện; những rạn nứt kè đá không phải là hiện tượng rạn nứt mà là các khe co giãn, giữa các khối đá xây theo tiêu chuẩn thiết kế, kỹ thuật xây dựng kè đá.

Kết thúc buổi kiểm tra, Nguyễn Đức Đ báo cáo kết quả với Đội trưởng Đội quản lý trật tự đô thị thành phố C là Đàm Nhật H6 (sinh năm 1983, T3 tại: tổ A, phường H, thành phố C) công trình trên đảm bảo thi công đúng quy định; Mã Thúy H3 báo cáo kết quả với Nông Thị N là công trình trên đảm bảo thi công đúng quy định và đưa biên bản cho N ký mặc dù N không tham gia buổi kiểm tra. Sau đó, H3 đã tham mưu, soạn thảo Công văn trả lời đơn của H trình N ký ban hành. Ngày 10/02/2022, Nông Thị N ký ban hành Công văn số 14/CV-UBND trả lời đơn của Dương Trung H, nội dung Công văn thể hiện: “Về chiều cao, chiều rộng kè đá xây đúng theo kích thước thiết kế, kè đã được hoàn thiện; Về những rạn nứt kè đá do gia đình ông H chỉ tại hiện trường: toàn bộ kè đá xây có những khe tách rời 3-5cm, có khoảng cách mỗi khối từ 5-6m từ trên đỉnh kè xuống dưới chân móng. Đây không phải là hiện tượng rạn nứt mà là cách khe co giãn, giữa các khối đã xây theo tiêu chuẩn thiết kế, kỹ thuật xây dựng kè đá”.

Quá trình sinh sống gia đình Dương Trung H nhận thấy kè đá tiếp tục có những vết rạn, nứt nên đã có phản ánh với T và UBND phường D, T sau đó đã thuê thợ xây chát, bịt những vị trí rạn, nứt trên kè. Ngày 21/11/2022, H có đơn trình báo (lần 2) gửi UBND phường D đề nghị UBND phường tiếp tục xem xét công trình kè đá của Lê Đức T.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nông Thị N cho rằng tại cuộc họp giao ban tuần 52 ngày 19/12/2022 Nông Thị N đã phân công Tạ Thanh T4 giải quyết đơn lần 2 của Dương Trung H nhưng thư ký sơ xuất nên đã ghi thiếu trong biên bản.

Ngày 22/12/2022 UBND phường D phối hợp với các cơ quan chuyên môn tiến hành kiểm tra công trình kè đá của Lê Đức T, thành phần buổi làm việc theo biên bản gồm:

  1. Ông Tạ Thanh T4 - Phó chủ tịch UBND phường D;
  2. Bà Mã Thúy H3 - Công chức địa chính xây dựng UBND phường D;
  3. Ông Nông Chí M1 - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường D;
  4. Ông Mã Văn L2 - Tổ trưởng tổ D, phường D;
  5. Ông Ngân Bá B2 - Trưởng ban thanh tra nhân dân phường D;
  6. Ông Nguyễn Đức Đ - Đại diện Đội quản lý trật tự đô thị - UBND thành phố C;
  7. Ông Trần Văn V - Đại diện Phòng quản lý đô thị - UBND thành phố C;
  8. Ông Dương Trung H;
  9. Ông Lê Đức T.

Quá trình làm việc đoàn kiểm tra không tiến hành đo đạc, chỉ quan sát bằng mắt thường, biên bản ghi nhận ý kiến của những người tham gia.

Tại phiên tòa bị cáo H3 khai nhận: Bị cáo N đã phân công Tạ Thanh T4 giải quyết đơn lần 2 của Dương Trung H, nhưng vào hồi 13h50 giờ ngày 22/12/2022 Tạ Thanh T4 nhắn tin cho Mã Thúy H3 qua zalo có nội dung: “c ơi e đi tp có vc, nội dung chiều nay c chủ động cùng mọi ng làm nhé”. Mã Thúy H3 khai đây là tin nhắn T4 báo không đến tham gia buổi kiểm tra ngày 22/12/2022. Do đó, sau khi kết thúc buổi kiểm tra, Mã Thúy H3 đã báo cáo kết quả và đưa biên bản cho Tạ Thanh T4 ký, sau khi T4 ký biên bản kiểm tra H3 đã gửi biên bản cho ông T, ông H, ông L2, ông Đ. H3 tham mưu cho ông T4 kết quả kiểm tra vẫn giống như lần trước, các bên đều thống nhất nội dung và đã ký xác nhận vào biên bản nên không cần ban hành văn bản trả lời đơn của Dương Trung H.

Tại phiên tòa Tạ Thanh T4 lại cho rằng không nhớ tin nhắn cho H3 về nội dung gì và không thừa nhận việc H3 báo cáo kết quả kiểm tra đơn lần 2 và đưa biên bản kiểm tra cho T4 ký, mà cho rằng đến ngày 30/4/2023 T4 mới được H3 đưa biên bản cho ký. Còn ông Mã Văn L2 khẳng định ông đã được H3 đưa cho biên bản kiểm tra ngày 22/12/2022 có dấu đỏ của UBND phường D sau thời điểm kiểm tra khoảng hơn 01 tháng.

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, công trình kè đá của Lê Đức T bị sạt lở và đổ xuống nhà của Dương Trung H, khi đó gia đình H có 05 (năm) người gồm: Dương Trung H, Trương Thị H7 (sinh năm 1958 - mẹ đẻ H); Trương Thị N2 (sinh năm 1994 - vợ H) và hai con của H và N2 là Dương Yến N3 (sinh năm: 2018), Dương Anh Đ1 (sinh năm: 2021). Hậu quả: Trương Thị N2, Dương Yến N3 và Dương Anh Đ1 đã tử vong, toàn bộ nhà và tài sản trong nhà H bị đất đá đổ xuống làm hư hỏng. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Công trình kè đá (kè chắn đất) của Lê Đức T được xây dựng tiếp giáp với đường Q thuộc địa phận phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Theo hướng từ phường D đi xã C thì công trình nằm ở bên trái đường.

Nhìn theo hướng từ đường Q vào kè đá thì mặt kè bên phải có độ cao tính từ vị trí mặt đất thấp nhất sát chân kè đến đỉnh kè là 7,86m; Mặt kè bên trái có độ cao tính từ vị trí mặt đất thấp nhất sát chân kè đến đỉnh kè là 7,25m.

Mặt sau kè đá là bộ phận chính bị sập đổ, mặt kè này vẫn còn lại một phần chân kè, khoảng cách từ mép ngoài mặt kè bên phải đến mặt ngoài mặt kè bên trái là 17,7m. Độ cao của đỉnh mặt kè bên trái so với vị trí thấp nhất của mặt trên chân kè phía sau là 9m. Độ cao của đỉnh mặt kè bên trái so với điểm đáy chân mặt kè phía sau là 9,75m.

Nhà Dương Trung H được xây gần như song song với mặt sau kè, khoảng cách từ mép ngoài mặt sau chân kè đến mép móng nhà H tại nhiều vị trí khác nhau là từ 5,7m đến 6,07m.

Ngày 30/4/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra quyết định trưng cầu giám định số 153, 154, 155 trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Trương Thị N2, Dương Yến N3 và Dương Anh Đ1. Tại các bản kết luận giám định pháp y số 029, 030, 031 ngày 10/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận: Nguyên nhân chết của Dương Anh Đ1 là: do hậu quả của đa chấn thương nặng; Nguyên nhân chết của Dương Yến N3 và Trương Thị N2 là: do chấn thương vỡ nát sọ não.

Ngày 10/5/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra quyết định trưng cầu giám định số 167 trưng cầu giám định về việc xây dựng công trình kè đá của chủ đầu tư Lê Đức T và nguyên nhân xảy ra sự cố sạt lở công trình kè đá. Tại bản kết luận giám định tư pháp theo vụ việc số 1068/SXD-QLXD ngày 01/6/2023 của Sở xây dựng tỉnh C kết luận:

“Công trình kè đá của chủ đầu tư Lê Đức T xây dựng không đúng giấy phép được cấp.

Kè đá bị sập đổ do tổ hợp của nhiều nguyên nhân tác động như kích thước kè không đảm bảo (chiều cao thân kè cao hơn khoảng 1,8 lần, chiều sâu chôn móng thấp hơn khoảng 0,5 lần so với thiết kế của hồ sơ cấp phép xây dựng), bố trí khe lún không theo hồ sơ xin cấp phép xây dựng, không có cấu tạo thoát nước thân kè làm cho đất đắp sau thân kè bị ngậm nước. Nguyên nhân chủ yếu gây ra sự cố là do kích thước kè thi công không đúng theo giấy phép xây dựng, không đảm bảo khả năng chịu lực dẫn đến kè bị sập đổ”.

Ngày 22/8/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 297 đề nghị xác định giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ án. Tại bản kết luận định giá tài sản số 83 ngày 14/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C kết luận: Tổng giá trị thiệt hại tài sản là: 392.405.576 đồng (ba trăm chín mươi hai triệu bốn trăm linh năm nghìn năm trăm bẩy mươi sáu đồng).

Hành vi của bị cáo Lê Đức T đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 298 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Thành D, Nông Thị N và Mã Thúy H3 bị đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 360 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 105/CT-VKSTP ngày 17/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 298 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Thành D, Nông Thị N và Mã Thúy H3 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2024/HS - ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:

  1. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 298; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Đức T (Lê Đức T1).

    Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đức Đ.

    Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thành D.

    Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mã Thúy H3.

    Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Thị N.

    Tuyên bố bị cáo Lê Đức T (Lê Đức T1) phạm tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng".

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Thành D, Mã Thúy H3, Nông Thị N phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Đức T (Lê Đức T1) 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi trại thụ hình, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến ngày 26/12/2023.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Đ 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Đức Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành D 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Thành D cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Mã Thúy H3 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

    Giao bị cáo Mã Thúy H3 cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nông Thị N 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

    Giao bị cáo Nông Thị N cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 589; Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Xử:

    Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nông Thị N về việc bồi thường thiệt hại cho ông Trương Văn H8, bà Triệu Thị X, ông Dương Trung H số tiền là 150.000.000 đồng, (một trăm năm mươi triệu đồng).

    Xác nhận bị cáo Nông Thị N đã nộp số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên lai số 0001382 ngày 04/11/2024, Biên lai số 0001383 ngày 06/11/2024 và Biên lai số 0001386 ngày 08/11/2024.

    Xác nhận bị cáo Lê Đức T đã bồi thường thiệt hại cho ông Trương Văn H8, bà Triệu Thị X, ông Dương Trung H số tiền là 1.151.646.000 đồng (một tỷ một trăm năm mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Bị cáo Nguyễn Thành D đã bồi thường thiệt hại cho ông Trương Văn H8, bà Triệu Thị X, ông Dương Trung H số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Bị cáo Mã Thúy H3 đã bồi thường thiệt hại cho ông Trương Văn H8, bà Triệu Thị X, ông Dương Trung H số tiền là 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Đức Đ đã bồi thường thiệt hại cho ông Trương Văn H8, bà Triệu Thị X, ông Dương Trung H số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), trong đó 40.000.000 đồng đưa tiền mặt, còn 60.000.000 đồng đã nộp vào Cơ quan thi hành án dân sự thành phố C theo Biên lai số 0001182 ngày 29/3/2024 và Biên lai số 0001026 ngày 06/5/2024.

    Ông Trương Văn H8, bà Triệu Thị X, ông Dương Trung H xác nhận đã được các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Thành D, Nguyễn Đức Đ, Mã Thúy H3 bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

    Ngoài ra bản án còn quyết định án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo không kháng cáo. Trong thời hạn luật định, ngày 15/11/2024 người đại diện hợp pháp của bị hại Dương Trung H kháng cáo Bản án và ngày 25/12/2024 kháng cáo bổ sung với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tăng hình phạt tù cho bị cáo Lê Đức T, không cho các bị cáo còn lại được hưởng án treo và xem xét lại bồi thường thiệt hại.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

Người bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo về phần hình phạt và đề nghị cấp phúc thẩm xem xét tăng hình phạt tù cho bị cáo Lê Đức T, không cho các bị cáo còn lại được hưởng án treo. Đồng thời, rút kháng cáo đối với phần bồi thường thiệt hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án nhận định: Bản án sơ thẩm số 173/2024/HS - ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử các bị cáo Lê Đức T (Lê Đức T1) về tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng". Các bị cáo Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Thành D, Mã Thúy H3, Nông Thị N về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho các bị hại về phần hình phạt. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.

Đại diện hợp pháp của ông Dương Trung H có ý kiến: Nhất trí với tội danh Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, áp dụng tình tiết giảm nhẹ đúng, tuy nhiên hình phạt thấp, chưa phù hợp, chưa đánh giá được đầy đủ tính chất vụ án, chưa khách quan. Đề nghị xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo T và không cho các bị cáo còn lại được hưởng án treo, mà chuyển sang hình phạt tù giam.

Ông Dương Trung H nhất trí ý kiến Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không bổ sung thêm.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội của các bị cáo và xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của các bị hại:

Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của các bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng và những tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh:

[1.1]. Về tội danh và hình phạt:

Tháng 8/2021 Lê Đức T (Tên gọi khác: Lê Đức T1) tiến hành cho xây dựng công trình kè chắn đất trên 03 (ba) thửa đất số 154, 155, 156 thuộc tờ bản đồ số 52 tại tổ D, phường D, thành phố C. Quá trình xây dựng T đã chỉ đạo thợ thi công xây kè cao hơn so với thiết kế của hồ sơ cấp phép xây dựng, bố trí khe lún, cấu tạo thoát nước không đúng theo hồ sơ xin cấp phép xây dựng. Đến tháng 12/2021 công trình kè đá của T được xây dựng xong, sau đó T đã nhiều lần đổ đất và san gạt đất vào trong kè đá đã xây. Sau khi kè đã được xây xong, Dương Trung H đã 02 lần có đơn phản ánh về công trình kè chắn đất của T có hiện tượng rạn, nứt, nguy cơ đổ sập vào nhà H gửi Ủy ban nhân dân phường D, thành phố C.

Quá trình kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực trật tự xây dựng và giải quyết đơn của Dương Trung H các cá nhân bao gồm: Nguyễn Đức Đ - Viên chức đội quản lý trật tự đô thị - UBND thành phố C, Nguyễn Thành D - Công chức địa chính UBND phường D; Nông Thị N - Chủ tịch UBND phường D và Mã Thúy H3 - Công chức địa chính UBND phường D đã không thực hiện theo đúng quy trình nghiệp vụ, buông lỏng trong việc kiểm tra, không phát hiện được vi phạm của công trình dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, công trình kè đá của Lê Đức T bị lở và đổ xuống nhà của Dương Trung H làm vợ H là Trương Thị N2 cùng hai con của H và N2 là Dương Yến N3 và Dương Anh Đ1 tử vong, toàn bộ nhà và tài sản trong nhà bị hư hỏng. Trách nhiệm của các bị cáo cụ thể như sau:

- Đối với Lê Đức T: Thuần là người xin cấp phép xây dựng công trình kè chắn đất, hiểu rõ hồ sơ cấp phép của công trình và cũng là người trực tiếp chỉ đạo quá trình xây dựng. T đã chỉ đạo Vi Văn H5 xây kè không đúng giấy phép xây dựng, không đảm bảo khả năng chịu lực dẫn đến kè bị sập đổ.

Tại kết luận giám định tư pháp theo vụ việc số 1068/SXD-QLXD ngày 01/6/2023 của Sở xây dựng tỉnh C kết luận:

“Công trình kè đá của chủ đầu tư Lê Đức T xây dựng không đúng giấy phép được cấp.

Kè đá bị sập đổ do tổ hợp của nhiều nguyên nhân tác động như kích thước kè không đảm bảo (chiều cao thân kè cao hơn khoảng 1,8 lần, chiều sâu chôn móng thấp hơn khoảng 0,5 lần so với thiết kế của hồ sơ cấp phép xây dựng), bố trí khe lún không theo hồ sơ xin cấp phép xây dựng, không có cấu tạo thoát nước thân kè làm cho đất đắp sau thân kè bị ngậm nước. Nguyên nhân chủ yếu gây ra sự cố là do kích thước kè thi công không đúng theo giấy phép xây dựng, không đảm bảo khả năng chịu lực dẫn đến kè bị sập đổ”.

- Đối với Nguyễn Đức Đ: Đ là viên chức của Đội quản lý trật tự đô thị thành phố C phụ trách địa bàn phường D, thành phố C. Theo quy chế làm việc của Đội quản lý trật tự đô thị thành phố C và Quyết định phân công nhiệm vụ cho các thành viên của Đội quản lý trật tự đô thị thành phố C do lãnh đạo Đội ban hành, Đ có trách nhiệm tuần tra, kiểm tra, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng và phối hợp, đôn đốc, giám sát UBND phường và báo cáo lãnh đạo Đội quản lý trật tự đô thị thành phố C để xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Kể từ khi công trình kè chắn đất của Lê Đức T khởi công xây dựng cho đến khi bị sạt lở, Đ đã nhiều lần có mặt kiểm tra công trình, tuy nhiên Đ không thực hiện theo đúng quy trình nghiệp vụ, không phát hiện được vi phạm của công trình. Việc Đ không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của bản thân là nguyên nhân trực tiếp làm bỏ lọt vi phạm của công trình kè đá nói trên dẫn đến sự việc kè đá bị sạt lở ngày 30/4/2023.

- Đối với Nguyễn Thành D: D là công chức địa chính xây dựng của UBND phường D, thành phố C từ ngày 20/9/2021 đến hết ngày 31/12/2021, trong khoảng thời gian này, công trình kè đá của Lê Đức T đã được xây dựng và hoàn thiện. Theo quy chế phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố C ban hành kèm theo Quyết định số 1193/QĐ-UBND ngày 07/6/2018 của UBND thành phố C thì công chức địa chính xây dựng của UBND phường có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện và báo cáo kịp thời những vi phạm trật tự xây dựng. Trong quá trình xây dựng công trình D đã có mặt tại công trình nhưng không thực hiện theo đúng quy trình nghiệp vụ, không phát hiện, ghi nhận được vi phạm của công trình. Bản thân D đã thực hiện không đúng, không đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, đây là nguyên nhân trực tiếp làm bỏ lọt vi phạm của công trình kè đá nói trên dẫn đến sự việc kè đá bị sạt lở ngày 30/4/2023.

- Đối với Mã Thúy H3: Theo Quyết định phân công nhiệm vụ số 236 ngày 27/12/2021 của UBND phường D và Quy chế phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố C ban hành kèm theo Quyết định số 1193/QĐ-UBND ngày 07/6/2018 của UBND thành phố C thì Mã Thúy H3 là công chức địa chính xây dựng của UBND phường D, có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện và báo cáo kịp thời các công trình vi phạm về xây dựng trên địa bàn phường D, ngoài ra, H3 được phân công giải quyết đơn lần 1 và đơn lần 2 của Dương Trung H đối với công trình kè chắn đất của Lê Đức T. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ H3 đã thiếu trách nhiệm, không thực hiện theo đúng quy trình nghiệp vụ, buông lỏng việc kiểm tra, không phát hiện được vi phạm của công trình dẫn sự việc kè đá bị sạt lở ngày 30/4/2023.

- Đối với Nông Thị N: Là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường D, sau khi nhận được đơn lần 1 của Dương Trung H, Nông Thị N đã trực tiếp chỉ đạo và tham gia quá trình giải quyết đơn lần 1 của Dương Trung H nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ N đã thiếu trách nhiệm, không thực hiện theo đúng quy trình nghiệp vụ, buông lỏng việc kiểm tra, giám sát đối với cán bộ thực hiện nhiệm vụ dẫn đến không phát hiện được vi phạm của công trình. Nghiệp là người ký biên bản kiểm tra ngày 18/01/2022 và Công văn số 14 ngày 10/2/2022 trả lời đơn của công dân Dương Trung H với nội dung công trình xây đúng theo kích thước thiết kế, từ đó công trình trên mặc dù vi phạm quy định về xây dựng nhưng vẫn tiếp tục tồn tại và bị sạt lở vào ngày 30/4/2023.

Hành vi vi phạm quy định về xây dựng của bị cáo T đã xâm phạm đến an toàn công cộng, an toàn trong thi công công trình xây dựng, xâm phạm đến tính mạng và tài sản của công dân. Hành vi của các bị cáo H3, Đ, D, N đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, là một trong những nguyên nhân dẫn đến hậu quả xảy ra.

Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo H3, Đ, D, N thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý và không có tính chất đồng phạm.

Hành vi của bị cáo T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi của các bị cáo H3, Đ, D, N đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của các bị cáo đã gây ra thiệt lại làm 03 người chết, do đó, hành vi của các bị cáo H3, Đ, D, N thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo Lê Đức T thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng quy định.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đúng đối với các bị cáo. Trong vụ án, các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình công tác trước khi phạm tội được UBND thành phố C đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ, chấp hành tốt quy định của pháp luật và nội quy, quy chế của cơ quan, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Thành D, Mã Thúy H3, Nguyễn Đức Đ.

Bị cáo Nguyễn Thành D đã có hành động tốt đẹp, việc làm tốt “nhặt được của rơi trả lại người mất”, được Chủ tịch UBND phường H, thành phố C giấy chứng nhận. Bị cáo Lê Đức T có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến, Huân chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo Nguyễn Đức Đ có bố đẻ và mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến, bị cáo Mã Thúy H3 có chồng được tặng Huy chương vì an ninh tổ quốc, Huy chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo Nông Thị N có bố đẻ và mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến, có chồng được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang. Bản thân bị cáo N được trao tặng nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp, ngành trong quá trình công tác nên bị cáo N được hưởng nhiều hơn 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 so với các bị cáo khác.

Do vậy, bị cáo Lê Đức T, bị cáo Nguyễn Thành D, bị cáo Nguyễn Đức Đ, bị cáo Mã Thúy H3 được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Bị cáo Nông Thị N được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” của bị cáo Lê Đức T là nguyên nhân chính dẫn đến hậu quả xảy ra, do đó, cần áp dụng hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả gấp gần hai lần số tiền phải chịu trách nhiệm nên có đủ căn cứ để áp dụng Điều 54, quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại khoản 3 Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015đối với bị cáo.

Đối với hành vi phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”: các bị cáo Đ, D, N, H3 đều là người phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả hoặc vô ý do quá tự tin, nhận thức không đúng, không đầy đủ về trách nhiệm của mình và không có động cơ mục đích vụ lợi hay mục đích khác. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, ý kiến của Luật sư bào chữa cho các bị cáo, đề nghị xử các bị cáo dưới khung hình phạt và cho hưởng án treo thấy rằng: Cả 04 bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên đủ căn cứ để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại khoản 3 Điều 360 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà có căn cứ cho bị cáo hưởng sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật để cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục các bị cáo và không ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa tội phạm ở địa phương.

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá, nhận định tính chất hành vi của các bị cáo là tương xứng với hành vi đã thực hiện, các bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tham gia khắc phục, bồi thường để bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình các bị hại. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt vừa đảm bảo tính răn đe và sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo sửa chữa lỗi lầm đã gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Đức T và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Nguyễn Đức Đ, Nguyễn Thành D, Mã Thúy H3, Nông Thị N theo đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp cho các bị hại.

[1.2] Đối với nội dung kháng cáo về bồi thường trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà phúc thẩm ông Dương Trung H rút yêu cầu kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về án phí: Người đại diện hợp pháp của các bị hại được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của ông Dương Trung H về phần bồi thường thiệt hại.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Trung H là người đại diện hợp pháp cho bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 173/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
  3. Tuyên xử:
    1. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 298; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Đức T (Lê Đức T1). Tuyên bố bị cáo Lê Đức T (Lê Đức T1) phạm tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng". Xử phạt: Bị cáo Lê Đức T (Lê Đức T1) 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi trại thụ hình, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến ngày 26/12/2023.
    2. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đức Đ. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Đ 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

      Giao bị cáo Nguyễn Đức Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    3. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thành D. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành D 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

      Giao bị cáo Nguyễn Thành D cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    4. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mã Thúy H3. Tuyên bố bị cáo Mã Thúy H3 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Xử phạt: Bị cáo Mã Thúy H3 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

      Giao bị cáo Mã Thúy H3 cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    5. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 360; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Thị N. Tuyên bố bị cáo Nông Thị N phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Xử phạt: Bị cáo Nông Thị N 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

      Giao bị cáo Nông Thị N cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về án phí: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Người đại diện hợp pháp của bị hại được miễn án phí hình sự phúc thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu tòa HS, Hồ sơ vụ án, HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Na

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 22/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức T phạm tội Vi phạm quy định về xây dưng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger