Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________________________

Bản án số: 22/2025/HS-PT

Ngày: 03/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Bà Lê Thị Minh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 196/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Thị L và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Đặng Thị L, sinh ngày 01/01/1975 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa hảo; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 3/12. Con ông Đặng Văn B, sinh năm 1948 (sống) và bà Chung Kim Đ, sinh năm 1948 (sống); anh, chị, em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1984; có chồng là Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1976; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

2. LI SHIH FEI (Lê Thị P), sinh ngày 10/9/1980 tại Cần Thơ. Chỗ ở: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nữ; quốc tịch: Đài Loan (Trung Quốc); dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 5/12. Con ông Lê Văn L1, sinh năm 1945 (chết) và bà Đặng Thị K, sinh năm 1950 (sống); anh, em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1984; có chồng là LIN, PAO – YU (Lâm Bảo H), sinh năm 1975 (đã ly hôn); con có 01 người, sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Long H1, sinh ngày 01/01/1976 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa hảo; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 5/12. Con ông Lê Văn L1, sinh năm 1945 (chết) và bà Đặng Thị K, sinh năm 1950 (sống); anh, em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1984; có vợ là Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1980; con có 02 người, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Thị Tuyết X, sinh ngày 02/02/1972 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa hảo; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ. Con ông Nguyễn Trí L2, sinh năm 1932 (sống) và bà Lê Thị P1, sinh năm 1944 (chết); anh, chị, em ruột có 05 người, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1981; có chồng là Trương Ngọc T1, sinh năm 1979; con có 03 người, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Văn Đ2, sinh ngày 12/7/1977 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa hảo; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ. Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1947 (chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953 (sống); anh, em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1985; có vợ là Phạm Thị Mỹ H2, sinh năm 1978; con có 01 người, sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án, còn có 02 bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 18/02/2024, Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã T tổ chức tuần tra phát hiện tụ điểm đánh bạc tại phía sau nhà của Đặng Thị L ở ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Tiến hành mời Đặng Thị L, Huỳnh Văn M, Lê Thị P, Lê Long H1, Nguyễn Thị Tuyết X, Trần Văn T2 và ông Lê Tấn L3 về Công an xã T làm việc. Riêng Nguyễn Văn Đ2 đến ngày 21/02/2024 đến Công an xã T trình báo về hành vi tham gia đánh bạc.

Vật chứng tạm giữ gồm: 05 bộ bài tây (01 bộ đã qua sử dụng), tiền thu tại chiếu bạc 850.000 đồng và tiền thu trên người các đối tượng 26.620.000 đồng (trong đó, thu giữ của T2 700.000 đồng, P 11.350.000 đồng, H1 9.120.000 đồng, Xương 2.890.000 đồng, M 180.000 đồng và ông L3 2.380.000 đồng). Ngày 26/3/2024, L giao nộp 150.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, từ ngày 17/02/2024 đến ngày 18/02/2024, Đặng Thị L là người cung cấp bài, thu tiền xâu và tham gia chơi đánh bài cùng với Huỳnh Văn M, Lê Thị P, Lê Long H1, Nguyễn Thị Tuyết X, Nguyễn Văn Đ2 và Trần Văn T2 ở phía sau nhà của L thì bị phát hiện. Hình thức chơi là loại bài binh 06 lá, sòng bài có 01 tụ cái và 06 tụ đặt, làm cái xoay vòng, người nào làm cái 04 ván thì L thu tiền xâu 50.000 đồng, mỗi ván đặt thấp nhất 100.000 đồng và cao nhất 500.000 đồng. Cụ thể như sau:

  • - Ngày 18/02/2024, L tham gia chơi 03 ván, làm cái 01 lượt, kết quả không thắng không thua; Mộng tham gia chơi khoảng 16 ván, làm cái 01 lượt, kết quả không xác định được thua hay đánh rơi số tiền 500.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 180.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Xương tham gia chơi khoảng 16 ván, làm cái 01 lượt, kết quả không xác định thua hay đánh rơi số tiền 1.500.000 đồng bị tạm giữ số tiền 2.890.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, số tiền 890.000 đồng sử dụng mục đích cá nhân; T2 tham gia chơi 05 ván, kết quả thắng 100.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 700.000 đồng, sử dụng số tiền 300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, 400.000 đồng sử dụng mục đích cá nhân; Hồ tham gia chơi khoảng 10 ván, làm cái 02 lượt, kết quả không xác định thua hay đánh rơi số tiền 1.400.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 9.120.000 đồng, sử dụng 4.600.000 đồng vào mục đích đánh bạc, 4.520.000 đồng sử dụng mục đích cá nhân; P kêu ông Lê Tấn L3 (cháu bị cáo P) chở đến địa điểm đánh bạc trên, P tham gia chơi khoảng 03 ván, làm cái 01 lượt, kết quả không thắng không thua, bị tạm giữ số tiền 11.350.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc; Đ2 tham gia chơi khoảng 20 ván, làm cái 01 lượt, kết quả không thắng không thua, khi Công an kiểm tra thì Đ2 chạy thoát để lại chiếu bạc số tiền 600.000 đồng. Ngày 18/02/2024, L thu xâu được 250.000 đồng đã để tại chiếu bạc khi công an kiểm tra. Tổng số tiền đánh bạc ngày 18/02/2024 là 19.280.000 đồng (trong đó, thu trên người các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.430.000 đồng và tiền thu trên chiếu bạc là 850.000 đồng).
  • - Ngoài ra, quá trình điều tra xác định ngày 17/02/2024, H1, P, M, Đ2 và 02 người nam không rõ họ tên, địa chỉ cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức tương tự với ngày 18/02/2024. Mộng tham gia chơi 06 ván, mỗi ván đặt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, kết quả thua 200.000 đồng; Hồ tham gia chơi 05 đến 06 ván, mỗi ván đặt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng, kết quả thua 400.000 đồng; Phi tham gia ké tụ một ván 100.000 đồng, kết quả thua 100.000 đồng và Đ2 tham gia chơi 02 ván, mỗi ván đặt 100.000 đồng, kết quả thua 200.000 đồng. Ngày 17/02/2024, L thu xâu được số tiền 150.000 đồng.

Đối với các vật chứng gồm: 05 bộ bài tây (01 bộ đã qua sử dụng) và số tiền 27.620.000 đồng hiện đang tạm giữ chờ xử lý.

Tại bản án hình sự số 60/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị L, bị cáo L4 (Lê Thị P), bị cáo Lê Long H1, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết X và bị cáo Nguyễn Văn Đ2 phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Đặng Thị L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

bị cáo L4 (Lê Thị P) 01 (một) năm tù.

bị cáo Lê Long H1 01 (một) năm tù.

bị cáo Nguyễn Thị Tuyết X 06 (sáu) tháng tù.

bị cáo Nguyễn Văn Đ2 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày các bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt của 02 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, các bị cáo Đặng Thị L, LI SHIH FEI (Lê Thị P), Lê Long H1, Nguyễn Thị Tuyết X và Nguyễn Văn Đ2 kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo và không cung cấp thêm chứng cứ nào mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để xem xét giải quyết phúc thẩm. Xét thấy, bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo, đã xem xét toàn diện về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ gì mới để làm tình tiết xem xét, ngoài ra lý do mà các bị cáo đã nêu trong đơn đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

Cấp sơ thẩm xác định nhân thân của bị cáo L4 (Lê Thị P) có tiền án, tiền sự về tội trộm cắp và đã hoàn tất thụ án vào năm 2018. Tuy nhiên, do án tích của bị cáo do văn bản của Văn phòng Đ3 xác nhận, bị cáo không có tiền án, tiền sự tại Việt Nam nên Hội đồng xét xử điều chỉnh không ghi nhận nội dung này vào phần nhân thân của bị cáo.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 18/02/2024, Đặng Thị L là người cung cấp bài, thu tiền xâu và tham gia tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh 06 lá cùng với Huỳnh Văn M, Lê Thị P, Lê Long H1, Nguyễn Thị Tuyết X, Nguyễn Văn Đ2 và Trần Văn T2 ở phía sau nhà của L thuộc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 19.280.000 đồng.

Ngoài ra, ngày 17/02/2024, các bị cáo H1, P, M, Đ2 cùng với 02 người nam không rõ họ tên, địa chỉ cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức tương tự với ngày 18/02/2024.

Như vậy, với hành vi nêu trên và số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, cấp sơ thẩm truy tố xét xử các bị cáo Đặng Thị L, LI SHIH FEI (Lê Thị P), Lê Long H1, Nguyễn Thị Tuyết X và Nguyễn Văn Đ2 về tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Các bị cáo đều là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng và gây mất an ninh trật tự tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội nguy hiểm khác. Mặc dù, bản thân các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì thỏa mãn máu ăn thua cờ bạc, sát phạt đỏ đen và lợi ích vật chất không chính đáng mà các bị cáo vẫn bất chấp hậu quả để thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp thậm chí trong 02 ngày liên tục (đối với bị cáo L, H1, P và Đ2) nên cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Tiến trình tố tụng, cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo là phù hợp và có cơ sở; ngoài ra, cấp sơ thẩm còn xem xét thêm về hoàn cảnh gia đình, nhân thân, trình độ học vấn còn hạn chế để áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đã chiếu cố đến hoàn cảnh của các bị cáo.

[3.3] Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng là đã xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ nào mới để làm cơ sở xem xét, đồng thời lý do mà các bị cáo nêu trong đơn đã được xem xét ở cấp sơ thẩm. Từ những phân tích trên, thấy rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Thị L, L4 (Lê Thị P), Lê Long H1, Nguyễn Thị Tuyết X và Nguyễn Văn Đ2.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS – ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

2. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Thị L, LI SHIH FEI (Lê Thị P), Lê Long H1, Nguyễn Thị Tuyết X và Nguyễn Văn Đ2 phạm tội “Đánh bạc”.

3. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo L4 (Lê Thị P) 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Lê Long H1 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết X 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

4. Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng H. Cờ Đỏ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 22/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KHÔNG CHẤP NHẬN KHÁNG CÁO CỦA CÁC BỊ CÁO, GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger