Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hanh Phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2025
V/v “ly hôn giữa chị Mai
và anh Vỹ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Bình
  2. Bà Phạm Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 30-5-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2025/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/HNGĐ - QĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Cao Thị M, sinh năm 1973.

ĐKHKTT: tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Nơi ở hiện nay: tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(chị M có đơn xin xử vắng mặt).

Bị đơn: anh Hoàng Văn V, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai người khởi kiện chị Cao Thị M trình bày: chị kết hôn với anh V là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H vào ngày 22-02-1993. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 1998 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng không bảo ban được nhau trong cuộc sống làm ăn, thường xuyên cãi cọ nhau. Chị đã cố gắng chịu đựng để con có cha, có mẹ nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ năm 2000 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Toà án nhân dân (TAND) huyện H giải quyết cho chị được ly hôn anh V. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Bích S, sinh năm 1994, hiện nay cháu S đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản lấy lời khai bà Vũ Thị H, sinh năm 1950, trú tại tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H (là mẹ đẻ của anh V) trình bày: anh V kết hôn với chị M là do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện H vào tháng 02-1993. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 1998 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, hay cãi cọ nhau. Bà đã khuyên bảo nhưng anh V, chị M không nghe, vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ năm 2000 đến nay. Nay chị M xin ly hôn, anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn với chị M. Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Bích S, sinh năm 1994, hiện nay cháu S đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung: không có, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh V đang làm ăn ở tỉnh Đắk Lắk, anh V không có địa chỉ cụ thể, anh V liên lạc với gia đình qua điện thoại, anh V đã nhận thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng anh V do công việc bận không về Toà án để giải quyết vụ án, anh đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Chị M đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh V chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh V vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ly hôn giữa chị M và anh V; về con chung: chị M, anh V có 01 con chung là Hoàng Bích S, sinh năm 1994, hiện nay cháu S đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, nên không xem xét giải quyết; về tài sản chung: chưa giải quyết; về án phí chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:

[2] Về tố tụng: Chị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V ở tổ dân phố T, thị trấn H, huyện H; căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh V đã biết TAND huyện Hưng Hà đang thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa chị M với anh, nhưng anh không về Tòa án để giải quyết vụ án, chị M có đơn xin xử vắng mặt, Vì vậy, TAND huyện Hưng Hà mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh V, chị M theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Chị M kết hôn với anh V là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H vào ngày 22-02-1993, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 1998 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tình tính không hợp, vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, sống ly thân từ năm 2000 đến nay. Chị M, anh V đều xác định tình cảm vợ chồng không còn chị M xin ly hôn, anh V đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy chị M và anh V mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần xử cho ly hôn giữa chị M và anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: chị M, anh V có 01 con chung là Hoàng Bích S, sinh năm 1994, hiện nay cháu S đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Mặc dù chị M và bà H (mẹ đẻ anh V) đều trình bày không có tài sản chung, không đề nghị tòa án giải quyết nhưng do chưa có ý kiến trực tiếp của anh V nên Tòa án chưa xem xét giải quyết. Các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản bằng vụ kiện dân sự khác (nếu có).

[6] Về án phí: Chị M phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Cao Thị M và anh Hoàng Văn V.
  2. Về con chung: chị M, anh V có 01 con chung là Hoàng Bích S, sinh năm 1994, hiện nay cháu S đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: chưa giải quyết.
  4. Về án phí: chị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000637 ngày 14-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, chị M đã nộp đủ tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: chị M, anh V vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THA DS huyện Hưng Hà;
  • - UBND thị trấn Hưng Nhân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị M và anh V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger