|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/02/2025 v/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Nhiên
- Ông Trần Văn Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị K' Thị Ẩm, sinh năm 1992
Địa chỉ: Xóm B, thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị K' Thị Ẩm trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 03/6/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H. Sau khi kết hôn, anh T không quan tâm vợ con, đi làm không đưa tiền để chị chăm lo gia đình, nhiều lần xúc phạm chị và dân tộc của chị. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ để gia đình ấm êm nhưng anh T không nghe, từ tháng năm 2023 đến nay vợ chồng không còn sống chung với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là K' Nguyễn Minh N, sinh ngày 19/12/2014. Hiện nay con đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Minh T: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh T đều vắng mặt không có lý do. Không có văn bản thể hiện ý kiến của anh T về yêu cầu khởi kiện của chị Ẩ. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, chị K' Thị Ẩm vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Minh T vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn chị K' Thị Ẩm khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung với bị đơn anh Nguyễn Minh T. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn chị K' Thị Ẩm có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị K' Thị Ẩm và anh Nguyễn Minh T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn ngày 03/6/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo chị Ẩ, trong thời gian chung sống, anh T không chăm lo cho cuộc sống gia đình, tiền làm ra chỉ dùng vào việc tiêu sài cá nhân, chửi bới khinh thường dân tộc của chị, chị nhiều lần khuyên răn nhưng anh T vẫn không thay đổi. Từ năm 2023 vợ chồng chị đã không còn chung sống, không còn thực hiện nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không cố gắng hàn gắn để duy trì tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau nhưng anh T vắng mặt chứng tỏ anh T không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị Ẩ.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau. Nhưng giữa chị Ẩ và anh T không thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Ẩ ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và đúng quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Ẩ và anh T có 01 con chung là K' Nguyễn Minh N, sinh ngày 19/12/2014. Hiện nay cháu N đang sống chung với chị Ẩ. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu N đang có cuộc sống ổn định với mẹ, nên việc giao con cho chị Ẩ tiếp tục nuôi dưỡng để cháu được phát triển tốt là hợp lý nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ẩ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ẩ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Ẩ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Anh Nguyễn Minh T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K' Thị Ẩm:
Về hôn nhân: Chị K' Thị Ẩm được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
Về con chung: Giao con chung tên K' Nguyễn Minh N, sinh ngày 19/12/2014 cho chị K' Thị Ẩm trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí:
Chị K' Thị Ẩm phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013838 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Chị K' Thị Ẩm đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị K' Thị Ẩm và anh Nguyễn Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thu Thúy |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
