Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 3 - 2025

V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân và bà Nguyễn Thị Băng.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Hoàng Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Đặng Trần H, sinh năm 1985.
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Phương T, sinh năm 1989.
  • Cùng địa chỉ: Tổ H, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
  • Các đương sự vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 01 năm 2025, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Đặng Trần H trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Phương T đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 4 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Anh và chị T đã tìm giải pháp khắc phục, hai bên gia đình đã khuyên giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn không khắc phục được. Anh và chị T đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2024 đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Phương T.

Về nuôi con: Anh và chị Nguyễn Phương T có hai con chung là cháu Đặng Trần T1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012 và cháu Đặng Trần Nhật A, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2017. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu A, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu T1. Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu A, mức cấp dưỡng là 100.000.000đồng/năm (Một trăm triệu đồng/năm) cho đến khi cháu A đủ 25 tuổi, anh tự thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A, đề nghị Toà án không ghi nhận trong bản án.

Về chia tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 27 tháng 02 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Phương T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, địa điểm kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị nhất trí với lời trình bày của anh H. Tuy nhiên chị xác định đây chỉ là những mâu thuẫn bình thường trong cuộc sống, không đến mức trầm trọng để dẫn đến việc phải ly hôn. Giữa chị và anh H cũng chưa có thời gian để nói chuyện rõ ràng với nhau. Hiện chị và anh H đã sống ly thân từ khoảng tháng 03 năm 2024 đến nay. Sau khi ly thân chị nhiều lần đặt vấn đề với anh H để cả hai vợ chồng cùng nói chuyện với nhau giải quyết mâu thuẫn nhưng anh H không đồng ý. Chị xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh H được về đoàn tụ.

- Về nuôi con: Chị thống nhất với anh H vợ chồng có có 02 con chung như anh H trình bày. Khi ly hôn chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả hai con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp Toà án phân định quyền nuôi con theo cách khác, chị tuân thủ quyết định của Toà án nhưng chị đề nghị: Nếu chị không được quyền nuôi cả hai con, chị mong muốn được thăm con bất kể khi nào cần thiết và khi các con cần chị. Chị cam kết việc thăm và đón con sẽ không ảnh hưởng đến sinh hoạt và học tập của con. Chị sẽ thông báo trước cho anh H qua tin nhắn hoặc điện thoại mà không cần sự đồng ý trước, trừ trường hợp đặc biệt ảnh hưởng đến quyền lợi của con. Chị mong muốn được cùng anh H tham gia vào các quyết định quan trọng liên quan đến con bao gồm không giới hạn ở việc học tập, định hướng giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, chị đề nghị anh H trao đổi với chị trước khi đưa ra những quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai các con, đề nghị anh H dành thời gian chăm sóc con, không giao phó toàn bộ trách nhiệm nuôi dưỡng cho ông bà, đặc biệt là cháu T1 đang trong giai đoạn dậy thì, dễ tổn thương cả về tâm lý và thể chất. Đảm bảo cho các cháu có sự chăm sóc tốt nhất từ cả cha và mẹ.

- Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu quan điểm về vụ án.

- Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các quyền, nghĩa vụ của đương sự đã được bảo đảm.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về hôn nhân: Anh Đặng Trần H được ly hôn chị Nguyễn Phương T.

- Về nuôi con: Giao anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Trần T1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012; giao chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Trần Nhật A, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi. Anh H, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Anh H, chị T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tại phiên tòà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con". Bị đơn chị Nguyễn Phương T có hộ khẩu thường trú tại tổ H, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Anh Đặng Trần H kết hôn với chị Nguyễn Phương T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Anh H, chị T đều thừa nhận, quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay. Anh H cho rằng đã tìm nhiều cách khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng không khắc phục được. Quá trình giải quyết vụ án, chị T thừa nhận sau khi ly thân chị đã nhiều lần đặt vấn đề với anh H để cả hai vợ chồng cùng nói chuyện với nhau giải quyết mâu thuẫn nhưng anh H không đồng ý. Tòa án đã tiến hành hòa giải, chị T không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh H, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh H là có cơ sở được chấp nhận.

[2.2] Về nuôi con:

Anh H và chị T có 02 con chung là cháu Đặng Trần T1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012 và cháu Đặng Trần Nhật A, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2017.

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của anh H, chị T là chính đáng và đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con; Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên và phù hợp với thực tế điều kiện của các bên nên cần giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Trần T1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012. Giao cho chị T trực tiếp chăm sóc giáo dục cháu Đặng Trần Nhật A, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2017 là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi cháu T1, anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu A và tự thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình, không yêu cầu Tòa án ghi nhận. Chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[2.3] Về chia tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Anh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về hôn nhân: Anh Đặng Trần H được ly hôn chị Nguyễn Phương T.
  2. Về nuôi con:
    • Giao cho anh Đặng Trần H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Trần T1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi
    • Giao cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Trần Nhật A, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2017 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi.
    • Anh H, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Đặng Trần H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2024/0001546, ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Đặng Trần H, chị Nguyễn Phương T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP.Yên Bái;
  • - Chi cục THADS TP.Yên Bái;
  • - Đương sự (02);
  • - UBND P. Đồng Tâm, thành phố Yên Bái,
  • (GCNKH số 23 ngày 22/4/2012);
  • - Lưu: Hồ sơ; TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Kim Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Anh Đặng Trần H được ly hôn chị Nguyễn Phương T. 2. Về nuôi con: Giao cho anh Đặng Trần H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Trần T1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2012 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi Giao cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đặng Trần Nhật A, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2017 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi. Anh H, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger