Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-02-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, bà Nguyễn Thị Tin.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị Vân A, sinh năm 2001 (vắng mặt)
  2. Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc N, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Vi Thị Vân A trình bày:

Chị và anh Hoàng Ngọc N kết hôn với nhau vào năm 2021, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị về chung sống với anh N tại thôn T, xã Đ. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc từ khi cưới đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có con chung nên bất đồng quan điểm trong chuyện tình cảm, không hòa hợp trong cuộc sống dẫn tới nhiều lần to tiếng, cãi nhau. Chị chuyển ra ngoài ở riêng, sống ly thân với anh Hoàng Ngọc N từ tháng 06/2023 đến nay. Nay chị thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hai bên không còn tình cảm, không quan tâm gì đến nhau nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Ngọc N.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh Hoàng Ngọc N tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Hoàng Ngọc N trình bày:

Anh xác nhận lời khai của chị Vi Thị Vân A về thời điểm vợ chồng kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào năm 2021 là đúng. Vợ chồng sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc từ khi cưới đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có con chung nên thường xảy ra bất đồng, chị Vân A chuyển ra ngoài ở riêng từ tháng 06/2024, vợ chồng ly thân, không quan hệ tình cảm với nhau từ đó đến nay. Nay chị Vân A có đơn xin ly hôn thì anh đồng ý vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải nhưng chị Vi Thị Vân A và anh Hoàng Ngọc N vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay chị Vi Thị Vân A và anh Hoàng Ngọc N đều vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Đề nghị căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị Vân A được ly hôn anh Hoàng Ngọc N.

Về con chung: Đương sự đều xác định không có con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Vi Thị Vân A là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền chị Vân A đã nộp tạm ứng án phí

tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Vi Thị Vân A là người có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Hoàng Ngọc N. Bị đơn anh Hoàng Ngọc N là người có địa chỉ cư trú tại thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Vân A và anh Hoàng Ngọc N kết hôn với nhau vào năm 2021 trên tinh thần tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại U, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang (Căn cứ: Giấy chứng nhận kết hôn số 44/2021 do UBND xã Đ cấp ngày 10/9/2021 và Trích lục kết hôn số 200/2024/TLKH-BS do UBND xã Đ ngày 25/3/2024). Như vậy xác định quan hệ giữa chị Vi Thị Vân A và anh Hoàng Ngọc N là hôn nhân hợp pháp.

[3.2] Về mâu thuẫn vợ chồng:

Căn cứ lời khai của các bên và tài liệu xác minh, thu thập trong hồ sơ cho thấy: Chị Vi Thị Vân A và anh Hoàng Ngọc N chung sống với nhau từ khi cưới đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có con chung nên xảy ra bất đồng, không hoà hợp trong đời sống tình cảm. Chị Vân A chuyển ra ngoài ở riêng, sống ly thân với anh N từ tháng 6/2023 đến nay, hiện tại vợ chồng không ở cùng nhau, không quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau, vấn đề này cả hai bên đều thừa nhận.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về việc vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, cụ thể:

“Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Như vậy, trong thời gian dài vợ chồng chị A – anh N không chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ăn riêng, ngủ riêng, việc ai người đó làm. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để

tạo điều kiện cho hai bên có thêm thời gian cân nhắc, lựa chọn phương án cho thấu đáo nhưng phía chị Vân A vẫn kiên quyết không rút đơn xin ly hôn. Tại phiên tòa hôm nay, cả chị Vân A và anh Hoàng Ngọc N đều vắng mặt. Qua đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Vi Thị Vân A và anh Hoàng Ngọc N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được vì vậy cần xử cho chị Vi Thị Vân A được ly hôn anh Hoàng Ngọc N là phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.3] Về con chung: Chị Vi Thị Vân A và anh Hoàng Ngọc N đều xác định không có con chung, không yêu cầu giải quyết vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Chị Vi Thị Vân A là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 9, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị Vân A được ly hôn anh Hoàng Ngọc N.
  2. Về án phí: Chị Vi Thị Vân A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005340 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vi Thị Vân A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - UBND xã Đức Giang, tp Bắc Giang, BG;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử tòa án;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Sơn

- Lưu HS.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger