|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 22/2025/HNGĐ - ST Ngày 25 - 6 - 2025 “ V/v tranh chấp hôn nhân gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Trần và bà Trần Thị Học.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn La - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phùng Thị T, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình làm việc cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Phùng Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau vào ngày 18/10/1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn chị chuyển về chung sống cùng gia đình anh T1 ở xã T, huyện T. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hoà thuận hạnh phúc, đến đầu năm 2013 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng xảy ra cãi vã, đánh chửi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh T1 có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài nên tình cảm vợ chồng không hoà thuận. Vợ chồng đã hoà giải với nhau nhiều lần nhưng mâu thuẫn không hề thuyên giảm, tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Vì mâu thuẫn không thể hàn gắn nên từ tháng 6 năm 2024 chị chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống, hiện nay chị đang thuê nhà ở và vợ chồng ly thân từ đó tới nay. Từ thời điểm sống ly thân, hai bên không còn quan hệ tình cảm, không quan tâm tới cuộc sống của nhau.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/02/2001 và cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 19/4/2017. Hiện nay cháu N đã trên 18 tuổi. Cháu H còn nhỏ và đang ở cùng với chị. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Thị Thanh H và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị làm công việc tự do thu nhập hàng tháng từ 03 triệu đến 05 triệu đồng, nguồn thu nhập này rất ổn định nên chị đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi con ăn học.
Về tài chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Thanh vắng M tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giao thông báo cho anh đến Tòa án làm việc về việc chị T có đơn xin ly hôn, anh nhận được thông báo của Tòa án nhưng vì không thu xếp được công việc nên anh không đến Toà án làm việc. Anh T1 có đơn xin xét xử vằng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án anh T1 trình bày: Anh và chị Phùng Thị T kết hôn với nhau vào ngày 18/10/1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn chị T chuyển về chung sống cùng gia đình anh ở xã T, huyện T. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hoà thuận hạnh phúc, đến đầu năm 2013 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Từ tháng 6 năm 2024 chị T chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống, đến nay mẹ con chị bỏ ra ngoài thuê nhà sinh sống và vợ chồng anh ly thân từ đó tới nay. Từ thời điểm sống ly thân, hai bên không còn quan hệ tình cảm, không quan tâm tới cuộc sống của nhau.
Nay chị T có đơn đề nghị ly hôn, quan điểm của anh là đồng ý ly hôn vì vợ chồng mâu thuẫn đã lâu, anh không còn tình cảm với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/02/2001 và cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 19/4/2017. Hiện nay cháu N đã trên 18 tuổi. Cháu H còn nhỏ và đang ở cùng với chị T. Ly hôn anh đồng ý để chị T được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Thị Thanh H. Anh không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Tòa án tiến hành xác minh tại UBND xã T cung cấp: Chị Phùng Thị T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau vào ngày 18/10/1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn chị T chuyển về chung sống cùng gia đình anh T1 ở xã T, huyện T. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hoà thuận hạnh phúc, đến đầu năm 2013 anh chị phát sinh mâu thuẫn, hai anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh chửi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tuy nhiên mâu thuẫn cụ thể vì sao địa phương không nắm được. Vì mâu thuẫn không thể hàn gắn nên từ tháng 6 năm 2024 chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng anh chị ly thân từ đó tới nay. Nay chị T có đơn xin ly hôn với anh T1, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Hiện nay vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/02/2001 và cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 19/4/2017. Hiện nay cháu N đã trên 18 tuổi. Cháu H còn nhỏ và đang ở cùng với chị T. Nếu vợ chồng anh chị ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết giao nuôi con chung theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho cháu H.
Về quan hệ tài sản: Vợ chồng anh chị có tài sản gì, có cho ai vay mượn tài sản hay có vay mượn ai tài sản gì hay không, có đất đai gì hay không địa phương không nắm bắt được cụ thể. Nếu anh chị yêu cầu giải quyết vấn đề về tài sản đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử: Cho chị Phùng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Giao cho chị Phùng Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 19/4/2017, anh Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Còn cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/02/2001. Hiện nay cháu N đã trên 18 tuổi ở với ai do cháu tự quyết định.
Về tài sản chung; Về tài sản riêng; Công sức, đất canh tác và vay nợ: Chị T, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phùng Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về nuôi con, đây là vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 có nơi cư trú tại Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung: Chị T và anh T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh, chị có mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống chung giữa chị T và anh T1 không thể tiếp tục được vì anh, chị có mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân; điều đó khẳng định anh chị không còn yêu thương, chăm sóc nhau, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Phùng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1 là phù hợp.
Về con chung: Giao cho chị Phùng Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 19/4/2017, anh Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Còn cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/02/2001. Hiện nay cháu N đã trên 18 tuổi ở với ai do cháu tự quyết định.
Về tài sản chung; Về tài sản riêng; Công sức, đất canh tác và vay nợ: Chị T không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Phùng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:
[1] Về hôn nhân: Cho chị Phùng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
[2] Về con chung: Giao cho chị Phùng Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 19/4/2017, anh Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Còn cháu Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/02/2001. Hiện nay cháu N đã trên 18 tuổi ở với ai do cháu tự quyết định.
Các đương sự có quyền làm đơn thay đổi nuôi con và đề nghị cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[3] Về án phí: Chị Phùng Thị T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ(Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0001130 ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành dân sự huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị Phùng Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Chị Phùng Thị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Văn Thanh vắng M có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 22/2025/HNGĐ - ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phùng Thị Thanh xin ly hôn anh Nguyễn Văn Thìn
