Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24/11/2025

V/v: Tranh chấp Ly hôn, nuôi

con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Phán;

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Dũng, bà Nguyễn Thị Hiên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trịnh Hoàng Phương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Quế - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/11/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị X, sinh năm 1991.

    Địa chỉ: khu C, xã C, thành phố Hải Phòng. Xin xét xử vắng mặt.

  2. Người đại diện theo uỷ quyền: chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1990. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, thành phố Hà Nội. Xin xét xử vắng mặt.
  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1986.

    Địa chỉ: khu C, xã C, thành phố Hải Phòng. Xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: bà Trần Thị T, sinh năm 1958. Địa chỉ: khu C, xã C, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Phùng Thị X trình bày: Chị và anh Nguyễn Ngọc L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã C, huyện C cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/11/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở thị trấn C, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau cùng nuôi dạy con. Sau đó, thì phát sinh nhiều mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về lối sống và cách ứng xử. Đến năm 2022 thì vợ chồng sống ly thân. Anh chị được gia đình hai bên, nhiều lần hòa giải, song tình cảm vợ chồng không thay đổi mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ cuối 2022 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Ngọc L.

Về con chung: Chị X xác định chị và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 08/6/2011 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 07/3/2015. Từ khi ly thân đến nay cháu Nguyễn Ngọc Bảo A ở với chị, sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bảo A; cháu Nguyễn Ngọc Đ sống cùng với bố, đề nghị giao cháu Đ cho anh L nuôi dưỡng. Anh chị tự thoả thuận việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về thu nhập, chị X hiện đang có việc làm ổn định, mức lương tốt và được bố mẹ đẻ phụ giúp về chỗ ở, trông con, kinh tế.

Về tài sản chung, vay nợ: Chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc L trình bày: Anh và chị X tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới như chị X trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không hợp nhau tình cảm vợ chồng không còn, thường xuyên xích mích to tiếng. Sau đó, chị X bỏ về thôn N, xã V, T.p. Móng Cái ở với bố mẹ đẻ. Vợ chồng ly thân từ đó. Nay chị X xin ly hôn anh đồng ý vì hiện mỗi người đã có cuộc sống riêng, tình cảm không hàn gắn được. Anh xin vắng mặt tại các các phiên Toà. Về con chung đề nghị giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 07/3/2015 cho chị X nuôi dưỡng; còn giao cháu Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 08/6/2011 cho anh tiếp tục nuôi dưỡng, anh có đủ điều kiện nuôi cháu trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chúng tôi tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết. Về tài sản chung, vay nợ: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bà Trần Thị T trình bày: Tôi là mẹ đẻ anh Nguyễn Ngọc L, chị Phùng Thị X là con dâu. Anh L và chị X mâu thuẫn từ năm 2022 và vợ chồng ly thân đã lâu, đời sống vợ chồng không hạnh phúc; đề nghị Toà án cho anh L và chị X ly hôn. Về con chung giao cho mỗi anh chị nuôi một cháu như nguyện vọng của anh chị và các cháu.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét công bố các lời khai, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án; đề nghị Viện kiểm sát Khu vực 12 - Hải Phòng phát biểu quan điểm về tố tụng và hướng giải quyết vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về quyền và nghĩa vụ, bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự xử: Cho chị Phùng Thị Xuân ly H anh Nguyễn Ngọc L; Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia đình giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 07/3/2015 cho chị X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu Bảo A trưởng thành (đủ 18 tuổi); giao cháu Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 08/6/2011 cho anh Nguyễn Ngọc L nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của chị anh chị tự thoả thuận nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị X phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đây là vụ án Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại thôn K, xã C, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hải Phòng, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Anh Nguyễn Ngọc L, chị Phùng Thị X và người đại diện theo uỷ quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử theo thủ tục chung.

[3]. Quan hệ về hôn nhân: Chị Phùng Thị X kết hôn với anh Nguyễn Ngoc L1 là tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp. Trong thời gian vợ chồng chung sống anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về lối sống và suy nghĩ, anh chị đã nhiều lần cùng hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc nên chị đã bỏ về quê sống, ly thân với anh từ năm 2022, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Như vậy, xác định hôn nhân giữa chị X và anh L1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị X ly hôn anh L1 là phù hợp với khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Về con chung: Chị X và anh L1 có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 08/6/2011 hiện đang ở với anh L1; cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 07/3/2015 hiện đang ở với chị X. Anh L1 có nguyện vọng nuôi cháu Đ; cháu Đ cũng muốn ở với anh; chị X có nguyện vọng nuôi cháu Bảo A, cháu cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Anh chị Luật, X đều có thu nhập và chỗ ở tốt. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển của các cháu. Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Ngọc Đ cho anh L1 nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo A cho chị X tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại các Điều 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của anh chị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5]. Về tài sản chung, vay nợ: Chị X, anh L1 không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án, chị X phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  • - Quan hệ về hôn nhân: Cho chị Phùng Thị Xuân ly H anh Nguyễn Ngọc L.
  • - Về con chung: Giao cho chị Phùng Thị X tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 07/3/2015 đến khi cháu A trưởng thành (đủ 18 tuổi); giao cháu Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 08/6/2011 cho anh Nguyễn Ngọc L tiếp tục nuôi dưỡng cháu đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị X, anh L không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • - Về tài sản: Chị X, anh L không yêu cầu nên không giải quyết.
  • - Án phí: Chị Phùng Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000₫ theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E số: 0003538 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Chị X, anh L, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 12 – Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Cẩm Giang, tp Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP Tòa án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thiện Phán

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Thị Xuân Nguyễn Văn Luật - Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger