|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22 /2025/HNGĐ-ST Ngày 23/06/2025 “V/v: Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Đình Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Đức Quảng
2. Ông Trần Tiến Dũng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 06 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2025 về việc Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 06 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Mùi C, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng
- Bị đơn: Anh Hoàng Duy L, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang cải tạo tại phân trại số 3, trại giam V, Cục C5, Bộ C6.
(Chị C, anh L có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Tại đơn khởi kiện ngày 18/03/2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lý Mùi C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Mùi C và anh Hoàng Duy L tự nguyện tìm hiểu đi tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 10/02/2020 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, dẫn tới vợ chồng sống ly thân. Anh L vi phạm pháp luật, bị bắt và hiện đang cải tạo tại phân trại số C trại giam V, Cục C5 – Bộ C6. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, thời gian ly thân đã lâu nên chị xin được ly hôn với anh L.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Lý Minh K, sinh ngày 25/07/2019. Hiện nay cháu K đang ở với chị. Nay ly hôn chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, Công nợ và Công sức: Chị C xác nhận không có nên không yêu cầu T giải quyết.
2. Về phía bị đơn: Anh Hoàng Duy L1 được thông báo về việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình giữa chị C và anh. Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/05/2025, anh L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L2 Mùi Cu đăng ký kết hôn ngày 10/02/2020 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, trước khi anh đi cải tạo vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Anh xác định vợ chồng vẫn còn tình cảm nên anh không đồng ý ly hôn. Trong thời gian anh đi chấp hành án chị C không đến trại giam thăm gặp anh nên anh đề nghị chị C đến gặp anh để nói chuyện thì anh sẽ quyết định có ly hôn hay không.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Lý Minh K, sinh ngày 25/07/2019. Hiện nay cháu K đang ở với chị. Nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng xin được nuôi con và cho con ở cùng bố mẹ anh, anh không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
- Về tài sản chung, công nợ và Công sức: anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.
- Các đương sự: Nguyên đơn, đã chấp hành tham gia tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành, thực hiện về các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72, Bộ luật tố tụng Dân sự (Lý do bị đơn đang bị tạm giam).
- Đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 điều 56, điều 57, điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Mùi C.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị L2 Mùi Cu được ly hôn với anh Hoàng Duy L.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Lý Minh K, sinh ngày 25/07/2019 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K đến khi thành niên. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C do chị C tự nguyện không có yêu cầu.
- Về tài sản chung, Công nợ, Công sức đóng góp: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Lý Mùi C1 chịu toàn bộ án lý ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Lý Mùi C có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Duy L. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Tòa án đã thông báo cho anh Hoàng Duy L về việc thụ lý vụ án Hôn nhân và gia đình giữa chị C và anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi anh L đến Tòa án để làm việc nhưng anh L đều vắng mặt với lý do đang bị tạm giam tại phân trại số C, trại giam V, Cục C5-Bộ C6, Ngày 06/05/2025 Toà án đã đến phân trại số C, trại giam V, Cục C5-Bộ C6 để tiến hành xác minh, thu thập chúng cứ và lấy lời khai của anh L và anh L trình bày quan điểm, ý kiến của mình, đồng thời anh L cũng có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa hôm nay, chị C và anh L đều có đơn xin xét xử vắng mặt Căn cứ vào khoản 1,2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh L3 khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ vào ngày 10/02/2020. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung cùng gia đình anh L, tình cảm vợ chồng những năm đầu hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thường xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, cách sống, lối sống, A, chị đã sống ly thân từ nhiều năm nay bản thân anh L đã vi phạm pháp luật hiện đang chấp hành án tại phân trại số 3 trại giam V, Cục C5, Bộ C6 nên vợ chồng không ai còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị C2 định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L để giải phóng cho nhau. Về phía anh L trình bày quan điểm việc chị C xin ly hôn anh, A xác định vợ chồng vẫn còn tình cảm nên anh không đồng ý ly hôn. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Cu và anh L4 rạn nứt, khó hàn gắn được. Sau khi chị Cu có đơn xin ly hôn tại Toà án anh Luân xin đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp tích cực nào để cải thiện tình cảm vợ chồng. Mặt khác, Qua xác minh tại Khu hành chính và UBND thị trấn T, huyện T cho rằng khả năng đoàn tụ giữa chị C và anh L là khó, bản thân anh L hiện đang phải chấp hành án thời gian dài. Như vậy, có thể thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh L4 đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài chỉ gây đau khổ cho cả hai bên, làm cho anh, chị sống không đem lại hạnh phúc, không còn tình yêu thương. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C và xử cho chị C được ly hôn anh L là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Lý Mùi C và anh Hoàng Duy L có 01 con chung là cháu Hoàng Lý Minh K, sinh ngày 25/7/2019 hiện nay cháu K đang ở với chị C. Nay ly hôn chị C và anh L đều có nguyện vọng xin được nuôi cháu K. Xét yêu cầu của chị C và anh L đều là chính đáng. Tuy nhiên khi giao con cho một bên chăm sóc nuôi dưỡng phải đảm bảo các điều kiện để cháu phát triển cả về thể chất và tinh thần, Bản thân chị C có đủ điều kiện chăm sóc cháu K tốt hơn, còn đối với anh L hiện nay anh L đang chấp hành án tại phân trại số 3 trại giam V, Cục C5, Bộ C6 một thời gian dài nên không thể giao cháu K cho anh L chăm sóc được. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu K cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, quá trình giải quyết vụ án, chị C không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Xét yêu cầu của chị C không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện cần được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, Công nợ, Công sức đóng góp: Chị C, anh L tự thoả thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Mùi C phải chịu toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Mùi C3 ly hôn anh Hoàng Duy L.
[2]Về con chung: Giao cháu Hoàng Lý Minh K, sinh ngày 25/7/2019 cho chị Lý M Cu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Khang đến khi thành niên, anh Hoàng Duy L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị C4 nguyện không yêu cầu. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cấm cản trở.
[3]Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị C và anh L tự thoả thuận với nhau nên không yêu cầu toà án giải quyết.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Mùi C phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, xác nhận chị C đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền ký hiệu BLTU/2024, số 0001900 ngày 18/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5] Về quyền kháng cáo: Chị C và anh L vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tạ Đình Quang |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v: Hôn nhân và gia đình
