Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-5-2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Công Mừng, ông Giáp Văn Phẩm.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 20/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Tô Thị B, sinh năm 1993
  • Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1984
  • Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chị Tô Thị B, anh Lê Văn C đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 01 năm 2025, quá trình giải quyết vụ án và diễn biến tại phiên tòa nguyên đơn chị Tô Thị B trình bày: Chị và anh Lê Văn C kết hôn với nhau vào ngày 10/3/2011, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là thị trấn P), huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị và anh C được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, sau ngày cưới chị về nhà anh C làm dâu chung sống với nhau tại thôn P, xã P (nay là tổ dân phố P), thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc, đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dậy con, nói không ai nghe ai. Gia đình họ hàng hai bên cũng có khuyên bảo nhưng không thể đoàn tụ được. Chị và anh C đã ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Nay chị xác định vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Lê Duy Hiếu sinh ngày 13/01/2012 và Lê Sơn T sinh ngày 07/7/2013 hiện nay hai con chung đang sống cùng anh C tại Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 01 con chung là cháu Lê Sơn T. Hiện nay chị đang làm nghề tự do tại địa phương, thu nhập trung bình khoảng 10.000.000đồng – 12.000.000đồng/tháng, đủ điều kiện, đảm bảo nuôi con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng mỗi người nuôi một con chung, nên không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng, không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Do công việc bận và một số lý do khách quan không thể tham gia phiên tòa xét xử vụ án, chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20 tháng 3 năm 2025, trong quá trình giải quyết vụ án và diễn biến tại phiên tòa bị đơn anh Lê Văn C trình bày: Anh và chị Tô Thị B kết hôn với nhau vào ngày 10/3/2011, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh và chị B được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, sau khi cưới chị B về nhà anh làm dâu ngay và chung sống tại thôn thôn P, xã P (nay là tổ dân phố P), thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hai vợ chồng chung sống đến tháng 01/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị B đi làm về muộn, anh có nhắc nhở thì xảy ra cãi vã, trong lúc nóng giận anh có nói không ở được với nhau thì bỏ, từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Gia đình họ hàng hai bên cũng khuyên bảo về đoàn tụ nhưng không thành. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn chị B về chung sống cùng nhau nuôi dạy con, trường hợp chị B nhất quyết đề nghị ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị B.

- Về con chung: Anh và chị Tô Thị B có 02 con chung là Lê Duy Hiếu sinh ngày 13/01/2012 và Lê Sơn T sinh ngày 07/7/2013. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung, hiện anh đang làm vườn tại địa phương, thu nhập trung bình 80.000.000đ- 120.000.000đ/năm. Trường hợp nuôi hai con chung anh không yêu cầu chị B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hiện anh có công việc bận và một số lý do khách quan nên anh xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Tại biên bản ghi lời khai cháu Lê Sơn T trình bầy: Cháu là con bố Lê Văn C, mẹ là Tô Thị B, trường hợp bố mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu được ở với mẹ Tô Thị B.

Tại biên bản ghi lời khai cháu Lê Văn H trình bầy: Cháu là con bố Lê Văn C, mẹ là Tô Thị B, trường hợp bố mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu được ở với mẹ Tô Thị B.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Tô Thị B, bị đơn anh Lê Văn C đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai đương sự và lời khai của các con chung tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị B: Cho chị Tô Thị B được ly hôn với anh Lê Văn C.
  • - Về con chung: Giao cho chị Tô Thị B nuôi con chung là Lê Sơn T, sinh ngày 07/7/2013, giao cho anh Lê Văn C nuôi dưỡng con chung là Lê Duy H1, sinh ngày 13/01/2012, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn chị Tô Thị B và anh Lê Văn C có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Việc thăm nom con không được để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không đề nghị xem xét nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Tô Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị B đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo biên lai thu số: 0002829 ngày 05 tháng 02 năm 2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Tô Thị B khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn với anh Lê Văn C. Hiện nay anh Lê Văn C có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Tô Thị B và bị đơn anh Lê Văn C đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị B và anh C theo thủ tục chung.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị B và anh Lê Văn C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, nay là Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/3/2011. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị Tô Thị B và anh Lê Văn C đều xác định cuộc sống chung ban đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, trong phát triển kinh tế và nuôi dậy con, cãi vã chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau trong một thời gian dài (từ tháng 5/2024). Chị B, anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hanh phúc hôn nhân không đạt được, chị B xin ly hôn anh C đồng ý; điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy cho chị B được ly hôn anh Lê Văn C là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Chị Tô Thị B và anh Lê Văn C có 02 con chung là Lê Duy Hiếu sinh ngày 13/01/2012 và Lê Sơn T sinh ngày 07/7/2013 hiện nay đang sống cùng anh C tại Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Ly hôn, nguyện vọng của chị B có nguyện vọng được nuôi một người con chung là cháu Lê Sơn T, anh C có nguyện vọng được nuôi cả hai người con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng: Điều kiện thu nhập và chỗ ở của chị B, anh C như nhau đều có thu nhập, nơi ở ổn định, mặt khác cần giao cho mỗi người nuôi một con để thể hiện trách nhiệm của bố mẹ đối với con chung sau khi ly hôn, nên cần giao cho cho chị B nuôi dưỡng Lê Sơn T – sinh ngày 07/7/2013, giao cho anh Lê Văn C nuôi dưỡng cháu Lê Duy H1 – sinh ngày 13/01/2012, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị B và anh C không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Tô Thị B và anh Lê Văn C không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Tô Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tô Thị B được ly hôn với anh Lê Văn C.
  2. Về con chung: Giao cho chị Tô Thị B là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng cháu Lê Sơn T – sinh ngày 07/7/2013, giao cho anh Lê Văn C là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng cháu Lê Duy H1 – sinh ngày 13/01/2012, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn chị Tô Thị B và anh Lê Văn C có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Việc thăm nom con không được để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.

  1. Về án phí: Chị Tô Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp theo biên lai thu số 0002829 ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

4. Về kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND thị trấn Phì Điền, huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND tối cao;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Diệp Văn Vĩ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ Tô Thị B và Lê Văn C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger