|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21 – 3 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trưởng
- Ông Lê Văn Qui
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 217/2024/TLST-HN&GĐ ngày 11/12/2024 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị M, sinh năm 1993 (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Tôn Thành L, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ: ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Thạch Thị M trình bày:
Vào năm 2017, tôi và ông Tôn Thành L chung sống với nhau như vợ chồng, đến năm 2024 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh vào ngày 02/12/2019. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, dần về sau cuộc sống vợ chồng không hoà hợp, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng gay gắt, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Tôn Thành L.
Về con chung: Có 02 con chung tên: Tôn Thị Kim Y, giới tính: nữ, sinh ngày 20/6/2018 và Tôn Thành K giới tính: nam, sinh ngày 07/12/2020 hiện đang sống chung với ông L. Tôi nhường quyền nuôi hai con cho ông L tôi không tranh chấp. Về tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Do điều kiện đi lại khó khăn tôi yêu cầu toà án giải quyết vắng mặt tôi trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Tôn Thành L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt đến ngày 20/3/2025 ông Tô Thành L1 có văn bản trình bày ý kiến tại bản tự khai như sau:
Bị đơn trình bày thống nhất với nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, con chung, nợ chung, tài sản chung và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Bị đơn đồng ý ly hôn. Về con chung: Có hai cong chung tên Tôn Thị Kim Y, giới tính: nữ, sinh ngày 20/6/2018 và Tôn Thành K giới tính: nam, sinh ngày 07/12/2020 đang sống chung với bị đơn, bị đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung không yêu cầu bà M cấp dưỡng. Bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về thủ tục tố tụng: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56; 81; 82, 83 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị M được ly hôn với ông Tôn Thành L. Về con chung: Giao hai cháu Tôn Thị Kim Y, giới tính: nữ, sinh ngày 20/6/2018 và Tôn Thành K giới tính: nam, sinh ngày 07/12/2020 cho ông Tô Thành L1 trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông L1 không có yêu cầu cấp dưỡng nên bà M không có nghĩa vụ cấp dưỡng; về tài sản chung; về nợ chung không có nên không xem xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Thạch Thị M khởi kiện ông Tôn Thành L yêu cầu được ly hôn, nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ theo khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông L tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, chung sống từ năm 2017 đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh vào ngày 02/12/2019. Quá trình chung sống, giữa bà M và ông L phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bà M và ông L trình bày là do bất đồng quan điểm sống. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, để tiến hành hoà giải, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng bị đơn ông Tôn Thành L vẫn vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà M và ông L là trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa các đương sự.
Về con chung: Có hai con chung tên: Tôn Thị Kim Y, giới tính: nữ, sinh ngày 20/6/2018 và Tôn Thành K giới tính: nam, sinh ngày 07/12/2020 đang sống chung. Hiện đang sống chung với ông L, ông L có yêu cầu nuôi hai con và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con chung. Bà M cũng thống nhất giao hai con cho ông L nuôi dưỡng không tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, giao hai cháu Y và K cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên bà M không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn khai thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà Thạch Thị M phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147; 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân & gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị M và ông Tôn Thành L thuận tình ly hôn.
Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Thạch Thị M và ông Tôn Thành L: Giao cháu hai cháu Tôn Thị Kim Y, giới tính: nữ, sinh ngày 20/6/2018 và Tôn Thành K giới tính: nam, sinh ngày 07/12/2020 cho ông Tôn Thành L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông Tôn Thành L không có yêu cầu cấp dưỡng nên bà Thạch Thị M không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Thạch Thị M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau này có phát sinh tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
Về án phí: Bà Thạch Thị M phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp theo biên lai số 0008146 ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ thành tiền án phí (bà M đã nộp xong).
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Diệu |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
