Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ - ST

Ngày 21 tháng 3 năm 2025

"V/v: Tranh chấp Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vi Phương Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 798/2024/TLST-LH ngày 30 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXX-ST ngày 05/02/2025 giữa:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1975,

Bị đơn: Ông Trần Ngọc D, sinh năm 1965.

Đều có nơi cư trú Tổ G, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. ( Ông D có mặt, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Bà H và ông Trần Ngọc D kết hôn năm 2000 tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có tổ chức cưới hỏi theo nghi thức truyền thống của dân tộc. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về cách nuôi dạy con cái, quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, bà H ly thân ông D, đã đi làm ăn nơi khác, không còn sống chung nhà với ông D từ khoảng tháng 6/2024 đến nay. Nay bà H xác định không còn tình cảm với ông D nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung vợ chồng có 02 con chung là Trần Gia H1, sinh ngày 12/3/2001 và Trần Huy B, sinh ngày 14/11/2003. Các cháu đã trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung, bà H với ông D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà H tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Ông Trần Ngọc D trình bày:

Ông D xác nhận thông tin về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn như bà H trình bày là đúng. Qua nhiều năm chung sống, vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không lớn. Bản thân ông D luôn cố gắng lao động để phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy các con. Gần đây ông D có biết việc bà H phát sinh tình cảm với người khác, bỏ bê gia đình, tuy nhiên ông D sẵn sàng bao dung, tha thứ cho bà H. Nay bà H muốn ly hôn ông D không đồng ý, chỉ mong muốn bà H suy nghĩ lại để quay về cùng ông chăm sóc, nuôi dạy các con và xây dựng gia đình hạnh phúc. Về con chung các cháu đã trưởng thành, về tài sản chung nợ chung ông D không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhiều lần, tuy nhiên bà H cương quyết ly hôn, ông D không nhất trí ly hôn, giữ nguyên ý kiến tại các phiên hòa giải do Tòa án tổ chức.

Do hai bên đương sự không thỏa thuận được bà H có đơn không yêu cầu hoà giải. Do vậy phải mở phiên tòa xét xử ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, ông Trần Ngọc D có ý kiến không muốn ly hôn, mong muốn bà H quay về để cùng nhau chung sống.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục đúng theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện bà H xác định vợ chồng đã ly thân nhau mỗi người một nơi, nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị cho ly hôn để giải phóng cho cả hai bên. Xét thấy bà H, ông D đã ly thân nhau, mỗi người một nơi, bà H xác định không còn tình cảm, không thể hàn gắn với ông D, hiện bà H đã chuyển đi nơi khác làm ăn từ tháng 6/2024, bà H xác định không thể kéo dài hôn nhân, mục đích hôn nhân không đạt được, cương quyết ly hôn nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình. Về con chung: Các cháu đã trưởng thành nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung các bên tự thoả thuận nên không có căn cứ xem xét; về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Dương Thị H, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn”; bị đơn có địa chỉ tổ G, phường G, thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự để tham gia tố tụng. Tuy nhiên bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vắng mặt đối với bà Dương Thị H

[2] Về nội dung:

2.1 Về hôn nhân: Bà Dương Thị H và ông Trần Ngọc D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc đăng ký kết hôn đã được thực hiện tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố T là cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn: Sau khi kết hôn hai vợ chồng có 02 con chung, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về nuôi dạy con cái, quan điểm sống bất đồng, dẫn đến cãi vã không có tiếng nói chung. Do áp lực cuộc sống dẫn bà H đã đi làm ăn xa không sống chung với ông D từ tháng 6/2024 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau; nay bà H viết đơn ly hôn ông D, ông D không đồng ý ly hôn lý do mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dậy con cái; tuy nhiên bà H không nhất trí đoàn tụ và cương quyết ly hôn để ổn định cuộc sống của hai người. Từ nội dung trên Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông D đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên nên cần chấp nhận đơn khởi kiện về ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn với ông D là hợp với thực tế và đúng quy định tại các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: Ông Duy bà Hiến có 02 con chung là Trần Gia H1, sinh ngày 12/3/2001 và Trần Huy B, sinh ngày 14/11/2003. Các cháu đã trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết;

2.3. Về tài sản chung, nợ chung, bà H với ông D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyêt.

[3] Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ: các Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217; Điều 218; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí Lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị H về việc "Ly hôn"
    • - Quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị H được ly hôn với ông Trần Ngọc D
    • - Về con chung: Các cháu đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
  2. Án phí: Bà Dương Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000634 ngày 30/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
  3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN
  • - VKSND TP;
  • - Chi cục THADS TP;
  • - UBND P. Gia Sàng, TPTN
  • - Đương Sự;
  • - Lưu HS.BP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ - ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger