Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày 21 tháng 02 năm 2025

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Hợi, bà Hoàng Thảo Yến

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXX-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1978; có mặt

HKTT: Khu Tiền Ngoài, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Địa chỉ: Số nhà 64, khu Tiền Trong, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Gia đình ông Nguyễn Văn T)

Bị đơn: Ông Dương Đức Q, sinh năm 1976; vắng mặt

HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà và ông Dương Đức Q có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 01/01/1996, địa điểm tổ chức hôn lễ là tại nhà ông Q, K, Bắc Ninh. Do thiếu hiểu biết nên ông bà không xin xác nhận của UBND phường vào giấy chứng nhận kết hôn. Trước khi kết hôn, hai ông bà được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới và thông báo với họ hàng, làng xóm. Sau khi kết hôn, ông bà về chung sống cùng gia đình ông Q tại khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, bà M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan trong gần 20 năm nên vợ chồng ông bà ít được ở gần nhau. Lần gần nhất bà M trở về Việt Nam là vào tháng 3/2024. Bà M sinh sống cùng gia đình được khoảng 01 tháng thì chuyển đi sống ở nơi khác. Vì vậy, nay bà M đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung là chị Dương Thị X, sinh ngày 04/9/1997 và anh Dương Đức D, sinh ngày 27/02/2000. Do cả hai con đã đủ 18 tuổi nên bà không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản và công nợ: Không có và không đề nghị Toà án giải quyết.

Theo bản tự khai tại Toà án, bị đơn ông Dương Đức Q trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị M đăng ký kết hôn ngày 01/01/1996 tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Do thiếu hiểu biết nên ông bà không xin xác nhận của UBND phường vào giấy chứng nhận kết hôn. Trước khi kết hôn, hai ông bà được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới và thông báo với họ hàng, làng xóm. Sau khi kết hôn, ông bà về chung sống cùng gia đình ông Q tại khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, bà M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan trong gần 20 năm nên vợ chồng ông bà ít được ở gần nhau. Lần gần nhất bà M trở về Việt Nam là vào tháng 3/2024. Bà M sinh sống cùng gia đình được khoảng 01 tháng thì chuyển đi sống ở nơi khác. Vì vậy, nay bà M đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi ly hôn, xét thấy vợ chồng xa cách đã lâu, không còn tình cảm, ông Q đồng ý ly hôn với bà M.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung là chị Dương Thị X, sinh ngày 04/9/1997 và anh Dương Đức D, sinh ngày 27/02/2000. Do cả hai con đã đủ 18 tuổi nên bà không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản và công nợ: Không có và không đề nghị Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp cho Toà án 02 Đơn đề nghị với nội dung đề nghị UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xác nhận ông Dương Đức Q và bà Nguyễn Thị M là vợ chồng kể từ ngày 01/01/1996 cho đến hiện tại. Đại diện UBND phường K có ý kiến: Hiện tại UBND phường chỉ lưu giữ sổ đăng ký kết hôn kể từ năm 1997 đến nay và trong sổ không có tên ông Dương Đức Q, bà Nguyễn Thị M. Đối với việc Chứng nhận kết hôn đề ngày 01/01/1996 có thông tin cá nhân và chữ ký của ông Q, bà M nhưng không có xác nhận của UBND phường, UBND phường không có thông tin để cấp được trích lục xác nhận mối quan hệ vợ chồng cho ông bà.

Tại phiên toà, bà M đề nghị thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX tuyên bố ông Q và bà M không phải là vợ chồng.

Theo biên bản làm việc với Toà án, ông Dương Đức K là bố đẻ anh Q trình bày:

Ông Dương Đức Q, bà Nguyễn Thị M đã được tự do tìm hiểu, sau đó quyết định tiến tới hôn nhân, có thông báo và được sự đồng thuận của cả hai bên gia đình. Vào năm 1996, gia đình ông tổ chức lễ cưới cho ông Q, bà M. Thủ tục cưới được thực hiện đầy đủ, bao gồm các thủ tục hôn lễ truyền thống: Ăn hỏi, đám cưới, rước dâu và thủ tục đăng kí kết hôn tại UBND địa phương. Khi đăng kí kết hôn, ông Q và bà M tự đi làm thủ tục. Ông K đã được xem giấy đăng kí kết hôn của ông bà Mơ Quy tại thời điểm đó nhưng ông không chú ý tới việc trên giấy không có chữ kí và dấu xác nhận. Ông xác nhận việc ông Q, bà M có đăng kí và làm thủ tục kết hôn, trên thực tế. Ông bà cũng sinh sống với gia đình ông K từ năm 1996 cho tới hiện tại. Đối với quan hệ hôn nhân của ông Q, bà M, ông K không có ý kiến gì.

Theo biên bản làm việc với Toà án, ông Hoàng Viết L là Trưởng khu phố T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho biết:

Ông Dương Đức Q và bà Nguyễn Thị M là vợ chồng sinh sống tại khu phố T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cùng bố mẹ đẻ của anh Q là hai vợ chồng Dương Đức K. Thời điểm ông bà Mơ Quy kết hôn là năm 1996, được sự đồng thuận của cả hai bên gia đình. Khi tổ chức lễ cưới có thực hiện đầy đủ các thủ tục kết hôn truyền thống, thông báo cho bà con hàng xóm tới chung vui. Sau khi tổ chức lễ cưới, ông bà sống cùng bố mẹ ông Q cho tới thời điểm hiện tại. Theo thông tin mà gia đình ông K cung cấp cho khu phố, ông bà Mơ Q1 có làm thủ tục đăng kí kết hôn tại UBND địa phương. Về việc giấy chứng nhận kết hôn không có xác nhận của UBND địa phương thì ông không nắm được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu quan điểm tại phiên toà:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, tuyên bố bà M và ông Q1 không phải là vợ chồng.
  • - Về con chung: Ông bà có 02 con chung là chị Dương Thị X, sinh ngày 04/9/1997 và anh Dương Đức D, sinh ngày 27/02/2000 đã thành niên, không bị hạn chế về năng lực nên không cần xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
  • - Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà:

[1] Về tố tụng:

  • - Tranh chấp giữa hai đương sự là Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Dương Đức Q. Tại phiên toà, bà M thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị tuyên bố bà và ông Q không phải là vợ chồng. Ông Q có hộ khẩu thường trú tại khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Xác định quan hệ tranh chấp là “hôn nhân và gia đình”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Bị đơn ông Dương Đức Q đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lí do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  • - Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng các đương sự không hoà giải được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị M và ông Dương Đức Q chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp chứng nhận kết hôn nhưng không có chữ kí và dấu của UBND Khắc Niệm, Bắc Ninh. UBND phường K cũng xác nhận chỉ lưu giữ các hồ sơ đăng kí kết hôn từ năm 1997 cho tới hiện tại, và trong quá trình tra cứu không có thông tin đăng kí kết hôn của ông Dương Đức Q và bà Nguyễn Thị M. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình, chứng nhận kết hôn giữa ông Q, bà M là không có giá trị pháp lý và có căn cứ cho rằng ông bà đã chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mặc dù ông bà có đủ điều kiện đăng kí kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M và ông Q thừa nhận kể từ năm 1996 cho tới nay, do điều kiện công việc, hai bên đã không sống cùng nhau trong một thời gian dài, dẫn tới không có tiếng nói chung, không thấu hiểu lẫn nhau. Sau khi kết thúc công việc ở nước ngoài và trở về Việt Nam sống cùng ông Q, nhận thấy cuộc sống không có hạnh phúc nên bà M đã dọn ra ngoài, còn ông Q tiếp tục sinh sống cùng bố mẹ đẻ, hai người đã ly thân nhau từ khoảng tháng 4/2024 cho đến nay. Tại đơn khởi kiện, bà M đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q. Tại phiên toà, nhận thức được Chứng nhận kết hôn không có hiệu lực pháp luật, bà M thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX tuyên bố bà và ông Q không phải là vợ chồng. Xét thấy yêu cầu của bà M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện gia đình, khu phố và các đương sự đều xác nhận ông Q, bà M đã được gia đình tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau tại nhà của ông Q từ thời điểm ngày 01/01/1996 cho đến nay chưa tiến hành đăng kí kết hôn theo quy định, do đó cần áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 của Quốc hội, khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên bố không công nhận hai ông bà là vợ chồng.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung là chị Dương Thị X, sinh ngày 04/9/1997 và anh Dương Đức D, sinh ngày 27/02/2000. Hiện các anh chị đều đã thành niên, có khả năng lao động, có đủ năng lực hành vi dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Bà M và ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M. Tuyên bố bà Nguyễn Thị M và ông Dương Đức Q không phải là vợ chồng.
  2. Ông bà có 02 con chung là chị Dương Thị X, sinh ngày 04/9/1997 và anh Dương Đức D, sinh ngày 27/02/2000. Hiện các anh chị đều đã thành niên, có khả năng lao động, có đủ năng lực hành vi dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản, công nợ: Bà M và ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận bà M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001087 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND TP. Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ: Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Vũ Minh Trang

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Quang Hợi

Hoàng Thảo Yến

Phạm Vũ Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger