|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày 07 tháng 02 năm 2025 “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường, ông Phạm Ngọc Nguyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thảo, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 599/2024/TLST-HN&GĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 780/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà Châu Thị B, sinh năm 1989, nơi cư trú: số D đường N, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: tổ B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Châu Thị B trình bày: Năm 2006, bà B với ông Nguyễn Thanh G do quen biết tìm hiểu nên tổ chức đám nói, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B vào năm 2007 theo giấy chứng nhận kết hôn số 257/KH.2007 ngày 28-12-2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2012, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông G thường xuyên uống rượu, không chịu đi làm để phụ tiếp gia đình nên giữa vợ chồng xảy ra cự cãi, bà B với ông G đã không còn sống chung với nhau từ năm 2012 cho đến nay. Hiện, bà B với ông G đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng đối với nhau đã không còn nên không thể hàn gắn để quay lại chung sống, mục đích hôn nhân không đạt nên bà B yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Thanh G.
- Về con chung, cấp dưỡng: Quá trình chung sống, bà B với ông G có hai con chung tên Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 09-3-2007 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10-10-2009; hai con chung từ trước đến nay sinh sống với bà B nên khi ly hôn bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy các con chung, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 19-8-2024 (bản chính); căn cước công dân Châu Thị B (bản sao); giấy chứng nhận kết hôn giữa ông Nguyễn Thanh G và bà Châu Thị B (bản sao); giấy khai sinh Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Thanh T (bản sao).
Bị đơn ông Nguyễn Thanh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, ghi nhận ý kiến nhưng vắng mặt không lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông G; giao hai con chung Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 09-3-2007 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10-10-2009 cho bà B được tiếp tục nuôi dạy; bà B không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung, bà B không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Châu Thị Bích khởi K yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh G; ông G có nơi cư trú trên địa bàn thành phố L, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bà B có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa; ông G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà B, ông G.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị B và ông Nguyễn Thanh G chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 257/KH.2007, quyển số 01, ngày 28-12-2007 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Quá trình giải quyết, bà B xác định không còn tình cảm với ông G, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn. Ông G vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà B về tranh chấp ly hôn; không cung cấp, giao nộp chứng cứ. Tại phiên tòa, ông G tiếp tục vắng mặt không lý do, thể hiện ông G không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà B và ông G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì sẽ không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông G.
[4] Về con chung, cấp dưỡng: Quá trình chung sống, bà B với ông G có hai con chung Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 09-3-2007 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10-10-2009; các con chung hiện đang sống cùng bà B và cùng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với bà B. Bên cạnh đó, quá trình giải quyết ông G không có ý kiến phản đối việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà B. Do đó, để ổn định cuộc sống và đảm bảo cho các con chung phát triển tốt về mọi mặt khi bà B và ông G ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thanh T1 của bà B.
Bà B cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trường hợp ông G lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông G.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà B là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, cháu T1 sau khi ly hôn, không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông G không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Châu Thị Bích P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Thanh G1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Bích .
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị B được ly hôn ông Nguyễn Thanh G.
- - Về con chung, cấp dưỡng: Bà Châu Thị B được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 09-3-2007 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10-10-2009; bà Châu Thị Bích K1 yêu cầu ông Nguyễn Thanh G cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Châu Thị Bích C cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Thanh G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trường hợp ông Nguyễn Thanh G lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà Châu Thị B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Nguyễn Thanh G.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Châu Thị Bích P chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001649 ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; bà B đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Thanh G không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HN Bích - Giang
