Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-8-2025

Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Công Nhân;
  2. Ông Nguyễn Như Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 497/2025/TLST-HN ngày 26 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ông Phan Hoàng D, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số B đường số A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Số A đường D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phan Hoàng D trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu, ông Phan Hoàng D và bà Nguyễn Thị Hồng N đã tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89/2017 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, (nay là phường T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 11 năm 2017.

Tuy nhiên, sống hạnh phúc được 05 (Năm) năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do đôi bên thiếu sự thấu hiểu, đời sống chung không còn hòa hợp, xuất hiện rất nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết.

Nay để ổn định cuộc sống riêng tư ông Phan Hoàng D yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng N.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Phan Phúc Lâm S ngày 12/6/2018 và Phan Thùy Lâm sinh ngày 04/9/2019. Sau khi ly hôn mẹ sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con. Bố sẽ là người cấp dưỡng mỗi tháng 10.000.000đ (mười triệu đồng) cho 02 con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo nội dung bản tự khai, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Tôi thống nhất về quan hệ hôn nhân và con chung của ông Phan Hoàng D. Với yêu cầu ly hôn của ông Phan Hoàng D tôi không đồng ý tôi yêu cầu Tòa án hòa giải đoàn tụ.

Về tình trạng hôn nhân: Chồng tôi, ông Phan Hoàng D, đã đơn phương nộp đơn xin ly hôn lên Tòa án. Tuy nhiên, theo tôi được biết, nguyên nhân chủ yếu không phải vì mâu thuẫn không thể hòa giải, mà do ông có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Tôi có cơ sở nghi ngờ rằng chồng tôi đang có ý định kết hôn với người này sau khi ly hôn và đã nhiều lần bỏ mặc mẹ con tôi trong giai đoạn các con đang cần sự đồng hành, chăm sóc đặc biệt.

Mặc dù ông D chưa làm tròn trách nhiệm với gia đình, con cái và có những thú vui cá nhân (thậm chí ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và vi phạm luật hôn nhân gia đình) gây ức chế tinh thần của tôi khiến tôi stress căng thẳng, cảm thấy bất an về cuộc sống gia đình và phải đi kinh doanh, ra ngoài xã hội để kiếm tiền. Điều này cũng dẫn đến mâu thuẫn của gia đình tôi. Nhưng tôi thiết nghĩ, tôi vẫn luôn yêu thương chồng con, luôn hướng về gia đình, thiện chí để tạo môi trường giúp các con sống an vui, hạnh phúc và đặc biệt là tìm mọi cách để can thiệp, giúp Phúc L tuyệt vời trở lại, hòa nhập được với cộng đồng. Khó khăn hay thiệt thòi, vất vả, tủi nhục nào tôi cũng sẽ hy sinh để giữ được gia đình này cho các con. Vậy thì, việc ông D chối bỏ gia đình này chỉ vì lý do “không hợp với nhau” là không thỏa đáng.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Phan Phúc Lâm S ngày 12/6/2018 và Phan Thùy Lâm sinh ngày 04/9/2019.

Về tình trạng của con:

Bé Phan Phúc L, con chung của chúng tôi, đang trong giai đoạn điều trị tự kỷ – một tình trạng đòi hỏi môi trường gia đình ổn định, có sự yêu thương, quan tâm đúng mực, đồng hành sát sao của cả ba và mẹ. Mỗi sự biến động về tâm lý gia đình đều có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình trị liệu và sự phục hồi của con. Việc không thể giúp con hồi phục hay cải thiện vấn đề khó khăn không chỉ gây áp lực cho gia đình, mà còn có thể trở thành gánh nặng cho xã hội... Tôi và các chuyên gia can thiệp đều thấy rõ khi có ba cùng đồng hành,

con có tiến triển tốt hơn, cảm xúc ổn định hơn. Việc chấm dứt hôn nhân ở thời điểm này, đặc biệt trong bối cảnh người ba đang có mối quan hệ khác và thể hiện sự thờ ơ với con, có thể gây tổn thương lớn, kéo dài và khó khắc phục về mặt tâm lý cho bé.

Về bé Phan Thùy L1 (sinh ngày 04/09/2019), con cũng cần có một môi trường tốt, gia đình hòa thuận để phát triển bình thường về cả sức khỏe tâm sinh lý, và điều kiện học tập trở thành công dân có ích cho xã hội.

Vì vậy, tôi kính mong Quý Tòa Cân nhắc bối cảnh đặc biệt của con tôi để bác bỏ đơn ly hôn do chưa đảm bảo quyền lợi cho trẻ nhỏ – đặc biệt là trẻ đang mắc chứng tự kỷ. Bảo vệ môi trường sống ổn định về tâm lý và pháp lý cho bé Phan Phúc L, giúp con có đủ điều kiện phục hồi và phát triển. Yêu cầu người cha có trách nhiệm chăm sóc, không được đơn phương rời bỏ vai trò làm cha khi con đang cần mình nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Phan Hoàng D yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng N nên đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N cư trú tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[2.1] Ông Phan Hoàng D và bà Nguyễn Thị Hồng N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn (kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89/2017 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, (nay là phường T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 11 năm 2017) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp; vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[2.2] Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời trình bày của đương sự cho thấy mâu thuẫn giữa Ông Phan Hoàng D và bà Nguyễn Thị Hồng N chưa đến mức trầm trọng. Bà Nguyễn Thị Hồng N mong muốn con cái có một gia đình trọn vẹn và cả ba mẹ cùng đồng hành chăm sóc, nuôi dạy và bao bọc để các con có cơ hội phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý và điều kiện học hành đầy đủ. Đặc biệt, với cháu Phan Phúc L (sinh năm 2018) mắc chứng tự kỷ, càng cần được sự đồng hành, hỗ trợ đặc biệt về cả mặt kinh tế lẫn tinh thần.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 của Luật hôn nhân và gia đình thì các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Theo quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ: “Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phan Hoàng D. Do đó đề nghị của nguyên đơn không được chấp nhận.

[2.3] Về con chung: Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của Ông Phan Hoàng D nên không đặt ra xem xét việc nuôi con chung.

[2.4] Về tài sản chung: Ông Phan Hoàng D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.5] Về nợ chung: Ông Phan Hoàng D xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Ông Phan Hoàng D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
  • - Áp dụng các điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phan Hoàng D đối với bà Nguyễn Thị Hồng N (Giấy chứng nhận kết hôn số 89/2017 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, (nay là phường T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 11 năm 2017).

1.2. Về con chung: Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Ông Phan Hoàng D nên không xem xét.

1.3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm Ông Phan Hoàng D chịu phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000538 ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phan Hoàng D đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Ông Phan Hoàng D và bà Nguyễn Thị Hồng N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 TP HCM;
  • - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 TP HCM;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn.
  • - Mỗi đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ (Thư ký Việt Phương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Viết Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger