Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 –THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày 19 tháng 12 năm 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THANH HOÁ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Hợp

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Nhất và bà Nguyễn Thị Liên

Thư ký tòa án phiên toà: Bà Lê Khánh Huyền - Thư ký Tòa án khu vực 11- Thanh Hóa.

Đại diện VKSND khu vực 11 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thụ lý số 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/12/2025 giữa các đương sự:

*> Nguyên đơn: Chị Vi Thị Q, sinh năm 1993

Nơi ĐKTT: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa

Nơi làm việc hiện nay: Công ty TNHH B, địa chỉ tại thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Người được chị Q ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 2003

Địa chỉ: Công ty L - số C N, phường Y, thành phố Hà Nội, vắng mặt

*> Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa

(Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (BL số 01) bản tự khai (BL số 27 ) nguyên đơn chị Vi Thị Q trình bày và yêu cầu: Chị và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25/10/2013 tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, nay là UBND xã Đ, tỉnh Thanh Hóa, (BL số 06) sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ chồng tại thôn Q, xã Đ,huyện L, tỉnh Thanh Hóa, nay là thôn Q, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm nuôi dạy con, quản lý tài chính gia đình dẫn đến cuộc sống vợ chồng căng thẳng, cãi vã thường xuyên, khiến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn mâu thuẫn để cùng nhau tiếp tục xây dựng cuộc sống gia đình, đồng thời được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai người đó tự lo, nay chị Q xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Lê Ánh Q1, sinh ngày 09/12/2014( BL số 05 ). Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, cháu Q1 ở cùng anh T1 và ông bà nội tại thôn Q, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa (BL số 05), cháu học tập, sinh hoạt khỏe mạnh bình thường, nay cháu đã trên 07 tuổi, cháu có nguyện vọng ở với ai người đó nuôi dưỡng, nếu cháu có nguyện vọng tiếp tục ở với anh T1 và bà nội, chị đồng ý và cấp dưỡng nuôi con cùng anh T1 mỗi tháng 1.500.000đ, nếu cháu Q1 có nguyện vọng ở với chị, chị nhận trách nhiệm nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Văn T1, tại biên bản xác minh (BL số 34, 35) ngày 17/10/2025 tại thôn Q, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa và biên bản ghi nhận ý kiến của bà Hà Thị C1 (mẹ đẻ anh T1 lập ngày 17/12/2025) ghi nhận ý kiến của anh T1 như sau:

Về hôn nhân: Anh T1 nhận thấy vợ chồng đã ly thân lâu nay, không còn tình cảm và khả năng đoàn tụ, nên đề nghị Tòa án giải quyết về hôn nhân theo yêu cầu của chị Q.

Về con chung: Anh thống nhất vợ chồng có một con chung như chị Q trình bày là đúng. Anh nhận trách nhiệm tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q1 và đề nghị chị Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ.

Về tài sản và nợ: Anh thống nhất ý kiến chị Q, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:

*> Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử:

- Thẩm phán: Xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành các hoạt động tố tụng như ra thông báo thụ lý, thông báo phiên họp, hòa giải, tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ đúng trình tự tố tụng.

- Thư ký: Tống đạt các văn bản tố tụng, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

- HĐXX: Đúng thành phần, thời gian, địa điểm ghi trong quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, tại phiên tòa công bố đầy đủ tài liệu chứng của đương sự

*> Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn không đến Tòa án làm việc dẫn việc giải quyết vụ án kéo dài.

*> Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 107, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Q, xử cho chị Q được ly hôn anh T1, giao anh T1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q1, chị Q cấp dưỡng nuôi cháu Q1 với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng kể từ khi Tòa án có quyết định cho ly hôn đến khi cháu Q1 đủ 18 tuổi, phần tài sản và nợ các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Nguyên đơn chị Q phải chịu án phí ly hôn, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Ý kiến các đương sự; đại diện VKSND. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Q và nội dung tranh chấp cần giải quyết, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Theo giấy xác nhận thông tin cư trú ngày 10/9/2025 của Công an xã Đ, tỉnh Thanh Hóa thì bị đơn anh Lê Văn T1 hiện đang cư trú tại thôn Q, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa theo trình tự tố tụng sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Vi Thị Q vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (BL số 60a); bị đơn anh Lê Văn T1 vắng mặt lần hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nội dung giải quyết: Xem xét giải quyết yêu cầu Ly hôn, tranh chấp nuôi con của chị Q, Hội đồng xét xử thấy:

Về hôn nhân: Chị Q và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25/10/2013 tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã Đ, tỉnh Thanh Hóa), (BL số 06) nên là hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình chồng tại thôn Q, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa, sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cách nuôi dạy con, quản lý tài chính gia đình, dẫn đến thương xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai người đó tự lo, nay chị Q xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1, anh T1 thừa nhận tình trạng hôn nhân của vợ chồng như chị T1 trình bày và nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm và khả năng đoàn tụ, nên đề nghị Tòa án giải quyết về hôn nhân theo yêu cầu của chị Q.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Q yêu cầu ly hôn anh T1 là có căn cứ, phù hợp với thực trạng hôn nhân của vợ chồng, phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án (BL số 34) phù hợp với nguyện vọng hai bên, phù hợp với quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q, xử cho chị Q được ly hôn anh T1.

Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị Vi Thị Q (BL 01) anh Lê Văn T1 (BL 64), Biên bản xác minh của Tòa án (BL 34), Giấy xác nhận thông tin cư trú (BL 05) và bản sao Giấy khai sinh của cháu Q1 (BL số 07), đủ cơ sở xác định chị Vi Thị Q và anh Lê Văn T1 có một con chung là Lê Ánh Q1, sinh ngày 09/12/2014.

Xét đề nghị của chị Q, chị Q đề nghi giao người trực tiếp nuôi con theo nguyện vọng của cháu Q1, trường hợp cháu Q1 có nguyện vọng ở với anh T1, chị đồng ý và cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ, nếu nếu cháu Q1 có nguyện vọng ở với chị Q, chị nhận trách nhiệm nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến của bà Hà Thị C1 (mẹ anh T1) lập ngày 17/12/2025, (BL64) bà C1 trình bày, anh T1 làm việc ở xa không về tham gia phiên tòa được, anh T1 đề nghị bà T1 lên báo cáo với Tòa án, phần con chung anh thống nhất vợ chồng có 01 con chung như chị Q trình bày là đúng, từ khi vợ chồng ly thân, cháu Q1 ở với anh, học tập, sinh hoạt khỏe mạnh bình thường, nay vợ chồng ly hôn, anh T1 nhận trách nhiệm tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q1 và yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ.

Tại biên các bản xác minh ngày 17/10/2025 (BL 33, 34, 35) Biên bản ghi nhận ý kiến của bà C1 và cháu Q1 lập ngày 17/12/2025 (BL 64) thể hiện cháu Q1 ở với anh T2 và bà nội (bà C1) tại thôn Q, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2018 đến nay, chị Q ít quan tâm hỏi han, nay bố mẹ ly hôn cháu Q1 có nguyện vọng ở với bố và bà nội.

Để ổn định việc học tập, sinh hoạt, tâm sinh lý của con, giao anh T1 tiếp tục, trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của vợ chồng cháu Lê Ánh Q1, sinh ngày 09/12/2014 là phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án, phù hợp với nguyện vọng của cháu Q1, phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Chị Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng hai bên không được lợi dụng việc nuôi con, thăm con, để làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Xét về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, thì cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn phải cấp dưỡng cho con chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản tự nuôi, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình quy định mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định.

Trong vụ án này chị Q đồng ý giao anh T1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con và đề nghị mức cấp dưỡng 1.500.000đ/ tháng, anh T1 yêu cầu mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng.

Xét thấy mức cấp dưỡng các bên không thống nhất được, căn cứ Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quy định chi tiết khi Tòa án quyết định mức cấp dưỡng nuôi con, Tòa án sẽ quyết định mức cấp dưỡng nuôi con dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yêu của con, mức cấp dưỡng Tòa án quyết định không thấp hơn ½ mức lương tối thiểu vùng.

Chị Q hiện đang làm công nhân tại Công ty TNHH B, địa chỉ tại thôn T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng có mức thu nhập bình quân hàng tháng gần 11.000.000₫ (BL 61, 62, 63) Bảng lương do chị Q2 cung cấp cho Tòa án. Bản thân cháu Q1 và anh T1 hiện cư trú sinh sống ở vùng miền núi kinh tế khó khăn, anh T1 việc làm, thu nhập chưa ổn định, cháu Q1 hiện đang học lớp 6 trường tiểu học xã Đ, tỉnh Thanh Hoa. Do đó yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mức 2.000.000đ/tháng của anh T1 đối với chị Q là phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp với khả năng và thu nhập của chị Q. Chấp nhận mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh T1, buộc chị Q phải cấp dưỡng nuôi cháu Q1 cùng anh T1 mỗi tháng là 2.000.000đ, Thời điểm cấp dưỡng căn cứ Điều 482 Bộ luật dân sự, thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tính từ thời điểm án có hiệu lực pháp luật, cho đến khi cháu Q1 đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích con trẻ, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản và nợ: Chị Q và anh T1 đều không có yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Q phải chịu án phí ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định

[4] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự được quyền bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 278, 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với kiến nghị của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên xác định Thẩm phán chưa xác định đầy đủ mức thu nhập của các bên là không chính xác. Thẩm phán đã tiến hành xác minh thu nhập của hai bên thể hiện. Đối với thu nhập của anh T1, hiện anh T1 không có mặt tại địa phương, tại biên bản xác minh ngày 06/10/2025, bà C1 mẹ anh T1, không biết địa chỉ cụ thể anh T1 làm việc ở đâu, chỉ biết ở tỉnh Phú Thọ, không năm được thu nhập cụ thể, đối với chị Q đã cung cấp 03 bảng lương thể hiện tại các BL 60,61, 62 trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 107, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vi Thị Q và anh Lê Văn T1

Về con chung: Giao anh Lê Văn T1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Ánh Q1, sinh ngày 09/12/2014, chị Q cấp dưỡng nuôi cháu Q1 với mực cấp dưỡng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/tháng, kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Q1 đủ 18 tuổi

Chị Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng hai bên không được lợi dụng việc nuôi con, thăm con, để làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Vì lợi ích con trẻ, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con

Về án phí: Nguyên đơn chị Vi Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tổng là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000827 ngày 25/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị Q còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Chị Q, anh T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 11 - Thanh Hóa;
  • - UBND xã Đồng Lương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Đình Hợp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger