|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17-3-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tiến
- Bà Huỳnh Thị Bích Vân
– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ka Phu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐST - HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lưu Thị N (L), sinh năm 1993. (có mặt)
- Bị đơn: anh Trịnh Hoàng T, sinh năm 1987. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 24/02/2025)
Nơi ĐKTT: 072/VĐĐ, ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: Khóm C, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: 072/VĐĐ, ấp V, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 12 năm 2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lưu Thị N trình bày:
Chị và anh Trịnh Hoàng T kết hôn năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhưng không hòa giải được, từ tháng 11/2024 vợ chồng sống ly thân đến nay. Chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, chị không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: chị và anh T có 02 con chung là Trịnh Hoàng Trúc G, sinh ngày 03/9/2014 và Trịnh Hoàng Â, sinh ngày 25/3/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân 02 con chung sống cùng anh T, khi ly hôn chị đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 06 tháng 3 năm 2025 bị đơn anh Trịnh Hoàng T trình bày: Anh đồng ý ly hôn với chị Lưu Thị Nách . Anh và chị N có 02 con chung là Trịnh Hoàng Trúc G, sinh ngày 03/9/2014 và Trịnh Hoàng Â, sinh ngày 25/3/2020. Hiện nay, 02 con chung đang sống cùng anh, khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Anh và chị N không có tài sản chung, không có nợ chung.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử; vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lưu Thị N đối với anh Trịnh Hoàng T. Về con chung, đề nghị giao hai cháu Trịnh Hoàng Trúc G và Trịnh Hoàng  cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng và ghi nhận anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bị đơn anh Trịnh Hoàng T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Trịnh Hoàng T.
[2] Về hôn nhân: chị Lưu Thị N và anh Trịnh Hoàng T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 03 tháng 9 năm 2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp.
Tại biên bản xác minh của Tòa án được đại diện chính quyền địa phương cung cấp thông tin: trong thời gian chung sống chị N và anh T xảy ra mâu thuẫn về vấn đề gì thì địa phương không rõ, do đây là chuyện nội bộ gia đình.
Nhận thấy, trong thời gian chung sống chị N và anh T xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh T cũng đồng ý. Qua đó, thấy rằng mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục nên chị N yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: chị N và anh T có 02 con chung là Trịnh Hoàng Trúc G, sinh ngày 03/9/2014 và Trịnh Hoàng Â, sinh ngày 25/3/2020.
Tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 24/02/2025, cháu Trúc G có nguyện vọng được sống cùng cha, sau khi cha, mẹ ly hôn. Nhận thấy, cháu Trúc G có nguyện vọng sống cùng cha; cháu Hoàng  còn nhỏ, cả hai con chung đều đang sống cùng anh T, chị N đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Do đó, giao hai cháu Trúc G, Hoàng  cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: không có.
[5] Về nợ chung: không có.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: chị N phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lưu Thị N (L). Chị Lưu Thị N (L) được ly hôn với anh Trịnh Hoàng T.
- Về con chung: anh Trịnh Hoàng T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Trịnh Hoàng Trúc G, sinh ngày 03/9/2014 và Trịnh Hoàng Â, sinh ngày 25/3/2020. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: không có.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Lưu Thị N phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007212 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Nhi |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
