|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt.
- Ông Nguyễn Tất Bẩy.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Thân Thị T, sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Nơi thường trú: Thôn Hòn Tròn, xã Nam Dương, thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang
- Nơi ở: Số 804/14, khu phố 2, phường Bình Đa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Anh Hà Công A, sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Nơi cư trú: Thôn H, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09-3-2025, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Thân Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Công A kết hôn tự nguyện, không bị ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L (nay là UBND xã N, thị xã C), tỉnh Bắc Giang vào ngày 05 tháng 11 năm 2018. Đến năm 2020 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn tình cảm, không bảo ban được nhau, thường xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không có hạnh phúc, đã ly thân từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Công A.
Về con chung: Chị và anh A có một con chung là Hà Minh T1, sinh ngày 24-11-2018. Nay ly hôn, chị nhất trí để anh A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Hà Công A trình bày tại Bản tự khai ngày 02-3-2025:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N vào năm 2018. Vợ chồng chung sóng được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn tình cảm, đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị T xin ly hôn, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại đoàn tụ nên đồng ý ly hôn chị T.
Về con chung: Anh và chị T có một con chung là Hà Minh T1, sinh ngày 24-11-2018. Nay ly hôn anh xin nhận nuôi con, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn là chị Thân Thị T và bị đơn anh H Công An vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của các đương sự và tóm tắt nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 6, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thân Thị T được ly hôn anh Hà Công A.
- - Về con chung: Giao cho anh H Công An là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng con chung là Hà Minh T1, sinh ngày 24-11-2018. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Thân Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Thân Thị T có đơn xin ly hôn, giải quyết về nuôi con đối với anh Hà Công A. Bị đơn anh Hà Công A có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thân Thị T và bị đơn anh Hà Công A vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt chị T, anh A.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Thân Thị T kết hôn với anh H Công An trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L (nay là UBND xã N, thị xã C), tỉnh Bắc Giang vào ngày 05 tháng 11 năm 2018. Do vậy, quan hệ hôn nhân của chị Thân Thị T và anh Hà Công A là hợp pháp. Anh, chị chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay vợ chồng không còn sống chung, ly thân từ năm 2022. Quá trình giải quyết vụ án, chị T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh A. Bị đơn anh Hà Công A cũng đồng ý ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Thân Thị T và anh Hà Công A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Thân Thị T được ly hôn anh Hà Công A.
[4] Về con chung: Chị Thân Thị T và anh Hà Công A có một con chung là Hà Minh T1, sinh ngày 24-11-2018. Nay ly hôn, chị T và anh A đều thống nhất giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy cháu T1 đang sống cùng anh A, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu cháu T1 cho anh Ha Công A trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chị Thân Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Các Điều 6, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thân Thị T được ly hôn anh Hà Công A.
- Về con chung: Giao con chung là Hà Minh T1, sinh ngày 24-11-2018 cho anh H Công An trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị Thân Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Thân Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003177 ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Thân Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Thân Thị T, bị đơn là anh Hà Công A không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Minh |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
