Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ THANH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11/3/2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Len; Ông Nguyễn Ngọc Thắng.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Đình Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh.

- Đại diện viên kiểm sát nhân dân huyện N: không tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị B - Sinh năm 1977; Nơi ĐKHTT: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

- Bị đơn: anh Khương Hữu H - Sinh năm 1983; Nơi ĐKHTT: thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 03/02/2025, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:

  1. Về hôn nhân:

    Tôi và anh Khương Hữu H - Sinh năm 1983; Nơi ĐKHTT: thôn B, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa tự nguyện kết hôn với nhau, có Giấy chứng nhận kết hôn của UBND xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số 18 ngày 07/4/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hay cãi vã lẫn nhau, nhiều lần anh H uống rượu vào đã đánh đập tôi, có lần còn đốt quần áo của tôi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chúng tôi không sống cùng nhau đến nay đã hơn 8 năm. Nay tôi thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm giữa tôi và anh H không còn nữa, nên tôi viết đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh H.

  2. Về con cái:

    Vợ chồng tôi không có con cái nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Về tài sản và công nợ:

    Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn, anh H trong quá trình giải quyết vụ án trình bày ý kiến:

  1. Về hôn nhân:

    Tôi và chị Nguyễn Thị B - Sinh năm 1977; Nơi ĐKHTT: thôn T, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa tự nguyện kết hôn với nhau, có Giấy chứng nhận kết hôn của UBND xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số 18 ngày 07/4/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được khoảng năm năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng khó khăn trong việc sinh con nên ngày càng xa cách nhau. Khoảng năm 2018 thì chị B bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Nay chị B yêu cầu tòa án giải quyết cho chị B ly hôn tôi, tôi đồng ý.

  2. Về con cái:

    Vợ chồng tôi không có con cái nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Về tài sản và công nợ:

    Vợ chồng tôi không có tài sản chung và công nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, tố tụng: theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, chị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Bị đơn, anh H có địa chỉ tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên Tòa án nhân dân huyện Như Thanh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị B và anh Khương Hữu H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị B và anh H.

[2]. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị B và anh Khương Hữu H kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số 18 ngày 07/4/2009. Nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị B đối với anh H, Hội đồng xét xử xét thấy, qua lời trình bày của hai bên đương sự thì trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Thực tế vợ chồng đã không chung sống cùng nhau từ nhiều năm nay, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng không còn nữa.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị B và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị B yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh H, anh Hiệp đồng Ý.

Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị B.

[3]. Về con cái: chị B và anh H đều xác nhận không có con cái nên không xét.

[4]. Về tài sản và công nợ: chị B và anh H đều không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không xét.

[5]. Về án phí: chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Đ a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Khương Hữu H.

- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Khương Hữu H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 07/4/2009 do UBND xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp cho chị B và anh H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con cái: chị B và anh H không có con cái.

- Về tài sản và công nợ: chị B và anh H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về án phí: chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai ký hiệu: BLTU/24; Số 0003566 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Thanh. Chị B đã nộp đủ.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Như Thanh;
  • - Chi cục THA DS huyện Như Thanh;
  • - UBND xã Yên Lạc, huyện Như Thanh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị B - Khương Hữu H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger