|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/HNGĐ - ST Ngày: 09-6-2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Cường
Bà Nguyễn Thị Mai Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình:
Ông Đặng Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLST – HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1983; địa chỉ: SN A, ngõ C, đường B, tổ C, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1980; địa chỉ: xóm Y, xã Y, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: tôi và anh Nguyễn Hữu L tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Hòa Bình vào ngày 29/12/2000. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến khoảng tháng 6 năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L đi uống rượu về chửi bới vợ con, đầu năm 2019 nhà ngoại có công việc, anh L uống rượu say rồi xảy ra tai nạn, về sau anh L luôn mang vấn đề đó ra để đay nghiến tôi, khiến tôi không thể chịu được được, cuộc sống ngột ngạt, vợ chồng tình cảm nhạt dần, mâu thuẫn có được địa phương hòa giải nhưng chồng tôi không thay đổi, vợ chồng đã ly thân từ khoảng tháng 01/2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục cuộc sống chung, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Nguyễn Hữu L.
Về con chung: Vợ chồng tôi có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 21/10/2001 và cháu Nguyễn Tiến B1, sinh ngày 18/10/2006. Hiện hai cháu đã trưởng thành không đề nghị tòa giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu tòa giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 08/3/2025 bị đơn anh Nguyễn Hữu L trình bày:
Tôi và chị Nguyễn Thị P đăng ký kết hôn ngày 29/12/2000 trên cơ sở tự nguyện, thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, đến ngày 19/6/2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sau đó chị P bỏ đi không liên lạc được. Đến nay chị P muốn ly hôn với tôi, tôi không đồng ý ly hôn, tôi muốn quay lại đoàn tụ với chị P.
Về con chung: Vợ chồng tôi có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 21/10/2001 và cháu Nguyễn Tiến B1, sinh ngày 18/10/2006. Các con đã trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu tòa giải quyết.
3. Kết quả xác minh.
- Xác minh tại nơi cư trú của chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Hữu L tại xóm Y, xã Y, thành phố H, tỉnh Hòa Bình được tổ trưởng tổ dân phố cung cấp: Chị P và anh L là cư dân của xóm Y, xã Y, thành phố H, có hộ khẩu tại địa phương. Anh Nguyễn Hữu L hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương, còn chị P bỏ đi từ lâu không liên lạc được với chị P. Về mâu thuẫn của anh chị Phương L1 chính quyền địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn là gì, chỉ biết khi chị P bỏ đi thì vợ chồng anh chị có mâu thuẫn với nhau, còn mâu thuẫn cụ thể thì không nắm được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hữu L vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định.
- Về nội dung: Hôn nhân giữa chị P và anh L là hợp pháp. Xét đến thời điểm chị P khởi kiện ly hôn mẫu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không còn tồn tại cuộc sống chung,mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, cho chị P được ly hôn anh L.
Về con chung: Đã trưởng thành đề nghị không giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: không có, không đề nghị giải quyết.
Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị P có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hữu L có hộ khẩu thường trú tại: xóm Y, xã Y, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị P vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Hữu L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Hữu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/12/2000 tại UBND xã Y, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Hòa Bình là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo phía nguyên đơn trình bày là do anh L hay rượu chè chửi bới vợ con, đay nghiến vợ vì chuyện cũ, dẫn đến chị P không chịu đựng được phải bỏ đi.
Về phí bị đơn cũng khẳng định vợ chồng có mâu thuẫn dẫn đến chị P bỏ đi đến nay không về, tuy nhiên bị đơn không đồng ý ly hôn mà muốn được đoàn tụ với chị P.
Chị P xác định tình cảm không còn nên đề nghị ly hôn với anh L, mặc dù anh L mong muốn đoàn tụ, nhưng trong suốt thời gian chị P bỏ đi anh L không cố gắng tìm kiếm, không thay đổi bản thân, không có những biện pháp để khắc phục những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, chính quyền địa phương cũng xác nhận vợ chồng anh chị có mâu thuẫn, dẫn đến việc chị P bỏ đi. Cuộc sống chung giữa hai anh chị đã không tồn tại gần 02 năm nay. Đến nay tình cảm không còn, chị P kiên quyết xin ly hôn với anh L đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh L ở mức trầm trọng, đời khống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị P ly hôn anh L theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày 21/10/2001 và cháu Nguyễn Tiến B1, sinh ngày 18/10/2006. Hiện hai cháu đã trưởng thành không đề nghị tòa giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu tòa giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P, xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Hữu L.
- Về con chung: Đã trưởng thành, không đề nghị giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004370 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, chị P đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Thêu |
Bản án số 22/2025/HNGĐ - ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn P - L
