|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST;
Ngày: 06-3-2025
Vv tranh chấp: Xin ly hôn, tranh chấp con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Bà Bùi Thị Thu Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Thảo, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kiều My.
Trong ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 454/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: ấp P, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Ưng Công Q, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: ấp P, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
(Chị H có đơn xin vắng mặt và anh Q vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Chị và anh Ư Công Quan tự nguyện cưới nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, chị và anh Q sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không khắc phục được. Chị H đã cố gắn hàn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn giữa chị và anh Q ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Chị H và anh Q đã sống riêng từ đầu năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị cương quyết xin ly hôn với anh Q.
Về con chung: Chị và anh Q có một con chung tên Ưng Ngọc A thư sinh ngày 06/5/2015. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Tại phiên hòa giải ngày 02/12/2024, chị H rút yêu cầu cấp dưỡng, chị H khồng yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Ưng Công Q đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý và không gởi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Q.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị H và anh Q có mâu thuẫn thật sự và kéo dài, không khắc phục được ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị H và anh Q tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, thành phố M cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18/2015 ngày 16/3/2015 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Đối với nguyên đơn Nguyễn Thị Kim H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn Ưng Công Q vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kim H, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H xin ly hôn với anh Q vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Q không chăm lo gia đình. Chị H đã khuyên can nhiều lần nhưng anh Q vẫn không thay đổi. Chị H và anh Q đã sống riêng từ năm 2022 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q vắng mặt và không gởi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H. Điều đó cho thấy, anh Q không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Q không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị H và anh Q có một con chung tên Ưng Ngọc Như A sinh ngày 06/5/2015. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị H là có căn cứ vì cả hai con chung đang sống với chị H đã ổn định và con chung có nguyện vọng muốn được sống cùng chị H. Anh Q không có ý kiến gì về con chung. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về con chung. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về chia tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016, chị H phải chịu án phí án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ khoản Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H. Chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với anh Ư công Quan.
Về con chung: Giao con chung tên Ưng Ngọc Như A sinh ngày 06/5/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ưng Công Q không cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị H được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai số 0006643 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị H đã nộp xong án phí.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Mỹ Trang |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn, tranh chấp con chung
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chap nhan yeu cau
