|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 06/6/2025
“V/v Tranh chấp tài sản chung
Trong thời kỳ hôn nhân”.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hường
Bà Huỳnh Thị Út Mẫn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2025/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp tài sản chung”.
Do bản án hôn nhân sơ thẩm số: 03/2025/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Phước H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Có mặt
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1952. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo uỷ quyền của bà D: Ông Lý Hoàng T, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số C, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Có mặt
2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1947. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
3. Bà Lê Thúy D1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
4. Ông Bùi Đức C, sinh năm 1989. Vắng mặt
5. Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1983. Vắng mặt
6. Ông Võ Phúc D2, sinh năm 1967. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
7. Ông Phan Văn V, sinh năm 1975. Vắng mặt
Đại diện theo uỷ quyền của ông V: Chị Phan Thị N, sinh năm 1998. Vắng mặt
Cùng địa chỉ thường trú: Ấp V, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
Cùng chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 5 năm 2020 của nguyên đơn ông Lâm Phước H (sau đây gọi tắt là ông H) trình bày:
Ông H và bà A chung sống năm 2007 có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã T vào ngày 17 tháng 8 năm 2009 và bắt đầu xây dựng nhà trên quyền sử dụng đất mẹ ruột ông H tặng cho ông H năm 2011 và năm 2018 có xây dựng mới lại lần nữa nhưng ông H không có nhập quyền sử dụng đất này vào tài sản chung với bà A, chỉ có căn nhà trên quyền sử dụng đất này là tài sản chung với bà A nhưng ông H không yêu cầu Toà án chia căn nhà.
Trên quyền sử dụng đất ông H cho ông Phan Văn V, ông Bùi Đức C, ông Trần Thanh H1, ông Võ Phúc D2 thuê. Ngoài ra, không ai thuê hay sử dụng nữa, hiện nay bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ông H đang quản lý.
Ông H yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 714,4m (theo đo đạc hiện trạng sử dụng là 223.9m² đất), thửa đất số 5373, 5379, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 096053 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 00303 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp năm 2011 do ông Lâm Phước H đứng tên là tài sản riêng do mẹ tặng cho riêng không phải là tài sản chung với vợ là bà Nguyễn Thị Anh .
Bị đơn bà Nguyễn Thị A có ý kiến: Thống nhất theo lời trình bày của ông H, đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông H, yêu cầu Toà án công nhận quyền sử dụng đất diện tích 714,4m, thửa đất số 5373, 5379, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 096053 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 00303 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp năm 2011 là tài sản riêng của ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến như sau:
Bà Nguyễn Thị D: Bà yêu cầu kê biên bán đấu giá tài sản là phần đất có diện tích 714,4m, thửa đất số 5373, 5379, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 096053 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 00303 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp năm 2011 do ông Lâm Phước H đứng tên để thi hành án phần tiền nợ mà ông H và bà A đã nợ bà D.
Ông Phan Văn V trình bày: Ông V đang thuê một phần diện tích quyền sử dụng đất của ông H để buôn bán hợp đồng từ năm 2021 đến năm 2030, ông V không yêu cầu gì trong vụ kiện này.
Các ông bà Nguyễn Văn Q, Lê Thúy D1, Bùi Đức C, Trần Thanh H1 và Võ Phúc D2: Đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Tại bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 62/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Uminh Thượng, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Phước H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị A về việc tranh chấp yêu cầu công nhận tài sản riêng.
- Công nhận diện tích 223.9m² đất toạ lạc ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 096053, số vào sổ CH 00303 do UBND huyện U cấp cho ông Lâm Phước H ngày 19/8/2011, thửa số 5373, 5379, tờ bản đồ số 13 là tài sản riêng của cá nhân ông Lâm Phước H, hiện nay toàn bộ thửa đất nằm trong hành lang an toàn giao thông theo tờ trích đo địa chính số TĐ 209-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện U, diện tích đất có vị trí như sau:
- - Cạnh 1-2 dài 20,62m giáp đường đấu nối với đường T;
- - Cạnh 2-3 dài 7,05m giáp đường đấu nối với đường T;
- - Cạnh 3-4 dài 3,34m giáp đường đấu nối với đường T;
- - Cạnh 4-5 dài 0,56m giáp đường đấu nối với đường T;
- - Cạnh 5-6 dài 8,54m giáp tuyến tránh Quốc lộ F;
- - Cạnh 6-7 dài 6,21m giáp tuyến tránh Quốc lộ F;
- - Cạnh 7-8 dài 11,65m giáp tuyến tránh Quốc lộ F;
- - Cạnh 8-9 dài 1,30m giáp tuyến tránh Quốc lộ F;
- - Cạnh 9-10 dài 0,65m giáp tuyến tránh Quốc lộ F;
- - Cạnh 10-11 dài 4,22m giáp tuyến tránh Quốc lộ F;
- - Cạnh 11-1 dài 10,25m giáp Võ Phúc M.
(Kèm theo tờ trích đo địa chính số TĐ 209-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện U)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024 bà Nguyễn Thị D kháng cáo với nội dung yêu cầu tòa cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm, đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Bùi Ngọc Q1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của bị đơn anh Bùi Ngọc Q1 đã đúng quy định về quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xử xử vắng mặt, căn cứ Điều 294, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt nguyên đơn theo thủ tục chung.
- [3] Bị đơn anh Bùi Ngọc Q1 kháng cáo với nội dung, căn cứ vào điều kiện kinh tế, tinh thần và sự phát triển của cháu T1 yêu cầu bác đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của chị Đào Thị M1 đối với cháu Bùi Thị Đào T1, sinh ngày 03/10/2019.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, anh chị có tổng cộng 03 người con chung, 02 gái 01 trai. Cháu trai Bùi Ngọc Hải L và cháu gái nhó nhất Bùi Thị Đào T1 do anh Q1 là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; chị M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Đào D3 theo Quyết định thỏa thuận số 233/2022/QÐST-VHNGĐ ngày 30/12/2022 và số 02/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Xét về điều kiện nuôi con chung, anh chị đều có đủ điều kiện kinh tế chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Trong quan hệ con chung, giữa anh chị có 02 người con gái trong đó cháu D3 lớn nhất sống với chị M1 đã ổn định, cháu T1 nhỏ nhất sống bên anh Q1 và gia đình nội cháu.
Sau ly hôn, anh Q1 đã có gia đình mới, đồng thời có thêm 01 con riêng nên anh có nghĩa vụ nuôi vợ mới và tổng cộng 03 người con, anh là quân nhân công tác tại thành phố P và làm việc giờ hành chính, việc chăm sóc cháu T1 là do anh cùng với sự giúp đỡ của mẹ anh và người vợ mới chăm sóc cháu. Tuy nhiên, theo hồ sơ thể hiện có thời gian cháu sống cùng bà nội là Trần Thị T2 ở huyện K, Hưng Yên, bà T2 là người trực tiếp đưa cháu T1 đi kiểm tra sức khỏe tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh H. Như vậy, cho thấy cháu T1 có thời gian sống cùng bà nội và là người thường xuyên trực tiếp chăm sóc cháu tại huyện K, Hưng Yên.
Đối với chị M1, hiện chưa có gia đình mới; có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, bản thân chị xác định đủ điều kiện kinh tế nuôi dưỡng các con không yêu cầu anh Q1 cấp dưỡng nuôi con. Chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc cháu T1 là do chị thấy sức khỏe về răng, miệng cháu không ổn và có dấu hiệu chậm phát triển so với các cháu khác cùng độ tuổi nên chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc cháu, nhằm đảm bảo cho sự phát triển của cháu tốt hơn về sức khỏe và tinh thần.
Riêng cháu Bùi Thị Đào T1, tính đến thời điểm này cháu chưa được 06 tuổi và là con gái, ở giai đoạn này sự phát triển của cháu về thể chất, tinh thần và tâm sinh lý cho đến tuổi trưởng thành rất cần sự kề cận quan tâm chăm sóc của người mẹ. Anh Q1 là cha vẫn thực hiện được việc chăm sóc cháu nhưng tại thời điểm nào đó sẽ có phần hạn chế hơn so với chị M1, hơn nữa mẹ con chị em gái sống cùng nhau sẽ bảo ban chăm sóc cho nhau sẽ thuận lợi hơn, càng giúp cho cháu T1 phát triển tốt hơn về thể chất và tinh thần.
Nhìn chung sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đối với con, nhất là đối với con chưa thành niên, nhưng riêng đối với con gái lại càng đặc biệt quan tâm hơn, vì sự phát triển của cháu về thể chất có sự phức tạp hơn so với con trai và không ai có thể sánh bằng chính cha hoặc mẹ ruột của con trực tiếp quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Tại phiên tòa anh Q1 trình bày thêm, hiện cả 03 người con của anh và chị M1 đều đã đang sinh sống cùng chị M1 từ tháng 01/2025 đến nay; về chỗ ở chị thay đổi liên tục, không ổn định nên việc nuôi dạy các con trong tương lại sẽ không đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt. Tuy nhiên, bản thân anh cũng xác định từ khi các cháu về sống cùng chị M1, anh cũng hay liên lạc qua điện thoại, tuy anh không chu cấp gì về điều kiện kinh tế nhưng thấy các cháu vẫn ổn, phát triển bình thường. Như vậy, cho thấy thời gian qua chị M1 đã chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu ổn định, phát triển cơ bản tốt, chưa có căn cứ nào xác định chị không đủ điều kiện nuôi dưỡng các cháu, trong đó quan trọng hơn hết là cháu T1.
Từ những nhận định, phân tích đã nêu trên, mặc dù thời gian qua cháu T1 sống cùng gia đình anh Q1 cơ bản tốt nhưng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu T1, cháu sống cùng chị Q1 và chị gái cháu là cháu Bùi Thị Đào D3 sẽ phù hợp hơn, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của cháu. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của anh Q1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí :
Án phí sơ thẩm: Giữ nguyên theo bản án sơ thẩm
Án phí phúc thẩm: Anh Q1 phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Ngọc Q1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2025/HNGĐ-ST ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị M1 về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Bùi Thị Đào T1.
- Quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con này thay thế Quyết định số 233/2022/QÐST-VHNGĐ ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang về phần con chung đối với cháu Bùi Thị Đào T1, sinh ngày 03/10/2019.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình:
- - Án phí sơ thẩm: Chị Đào Thị M1 chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ, được khấu trừ số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0000398 ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, chị M1 đã thực hiện xong.
- - Án phí phúc thẩm: Anh Bùi Ngọc Q1 có nghĩa vụ nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu số tiền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0012420 ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, anh Q1 đã thực hiện xong.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Buộc anh Bùi Ngọc Q1 giao cháu Bùi Thị Đào T1, sinh ngày 03-10-2019 cho chị Đào Thị M1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T1 cho đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị M1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung Trong thời kỳ hôn nhân
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H -A
