|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2025/HNGĐ- PT.
Ngày: 05/3/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ngọc Yên
Ông Trần Ngọc Hòa
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thúy Hương - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm, công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 182/2025/TLPT - HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về: Tranh chấp ly hôn.
Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 425/2024/HNGĐ - ST, ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2025/QĐ - PT ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Tuấn Đ, sinh năm 1981; HKTT: Xóm C, T, T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số E, ngõ Đ, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (Có mặt).Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là Luật sư Nguyễn Văn D và luật sư Nguyễn Thị H - Văn phòng L Hà Nội, địa chỉ: Tầng D tòa nhà V, A T, Đ, Hà Nội (Có mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; HKTT và nơi cư trú: Xóm C, thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà nội (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án sơ thẩm, nguyên đơn anh Phạm Tuấn Đ trình bày:
- Về tình cảm: Anh và chị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký ngày 29/3/2010 tại UBND xã T, huyện T, Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị cùng chung sống tại xóm C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống cùng nhau đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm lối sống dẫn đến hai vợ chồng dần dần không còn tình cảm với nhau, hiện nay không còn nói chuyện với nhau. Năm 2022, anh đã gửi đơn ra TAND huyện Thanh Trì để xin ly hôn với chị H1. Tòa án đã chấp nhận đơn ly hôn của anh, sau đó chị H1 kháng cáo. TAND Thành phố Hà Nội bác đơn yêu cầu xin ly hôn của anh vào tháng 12/2022. Tuy nhiên, từ thời điểm Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội bác đơn yêu cầu xin ly hôn của anh đến nay vợ chồng anh vẫn không đoàn tụ được với nhau, anh và chị H1 không thể chung sống được với nhau thêm ngày nào. Anh và chị H1 vẫn ly thân từ năm 2021 cho đến nay, mỗi người sống một nơi không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không thể đạt được, một lần nữa anh xin được ly hôn với chị H1.
- Về con chung: Anh và chị H1 có 1 con chung là cháu Phạm Linh G, sinh ngày 08/5/2011. Hiện nay, cháu G vẫn sống cùng chị H1. Ly hôn, anh đồng ý để chị H1 tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu G. Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu H1 là: 3 triệu đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết.
*Quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, bản tự khai ngày 17 tháng 01 năm 2025 bị đơn chị Nguyễn Thị H1 trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T năm 2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận không xảy ra vấn đề bạo lực, giữa hai vợ chồng đến giờ vẫn có sự tôn trọng lẫn nhau. Lý do vợ chồng không sống chung trong thời gian vừa qua là do anh Đ đi trốn nợ tránh sự kiểm soát của các chủ nợ nên không ở cùng nhưng anh vẫn quan tâm lo lắng cho mẹ con chị nên giữa anh chị không vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Do vậy mà lý do anh Đ xin ly hôn với chị là không thỏa đáng nên chị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của chị và bác đơn xin ly hôn của anh Phạm Tuấn Đ một lần nữa tạo cơ hội để vợ chồng chị được đoàn tụ nuôi dạy con chung cùng nhau gánh vác trách nhiệm trả nợ.
- Về con chung: Chị thống nhất như anh Đ trình bày. Trường hợp phải ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con anh Đ đóng góp là 3.000.000 đồng/ tháng. Hiện chị đang làm kế toán cho Công ty có thu nhập hàng tháng đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung.
2
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 425/2024/HNGĐ - ST, ngày 16 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Tuấn Đ đối với chị Nguyễn Thị H1. Xử cho anh Đ được ly hôn với chị H1.
- Về con chung: Anh Đ và chị H1 có 01 con chung là cháu Phạm Linh G sinh ngày 08/5/2011. Khi ly hôn, tiếp tục giao cháu G cho chị H1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới. Anh Đ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H1 3.000.0000 đồng /tháng kể từ tháng 10/2024 đến khi cháu G trưởng thành 18 tuổi hoặc khi có yêu cầu mới.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn trở.
- Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Đương sự không yêu cầu, Tòa án không xem xét giải quyết.
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/9/2024 chị Nguyễn Thị H1 kháng cáo bản án không đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; Người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ.
Chị H1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo về việc không đồng ý ly hôn. Chị mong muốn vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung và cùng tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong cuộc sống. Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo và bác đơn ly hôn của anh Đ, sửa bản án sơ thẩm.
Anh Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị H1 và đề nghị HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đ có quan điểm hôn nhân của anh Đ và chị H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng giữa anh chị vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng. Đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm
3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án nhân dân Thành phố tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.Về nội dung:
Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị H1 hợp lệ. Sau khi phát biểu nội dung và căn cứ giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ luật Hôn nhân gia đình, căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật dân sự, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi Nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị H1 làm trong thời hạn Luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được coi là hợp lệ theo Điều 237 Luật tố tụng Dân sự nên được chấp nhận.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị H1:
Chị Nguyễn Thị H1 kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm với mong muốn vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung, không đồng ý với lý do xin ly hôn của anh Phạm Tuấn Đ. Chị khẳng định chị vẫn còn tình cảm với anh Đ, vợ chồng vẫn yêu thương, tôn trọng nhau và có khả năng đoàn tụ.
2.1 Về quan hệ hôn nhân:
Anh Phạm Tuấn Đ và chị Nguyễn Thị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 29/3/2010 tại UBND xã T, huyện T, Hà Nội là hôn nhân hợp pháp.Quá trình chung sống giữa anh chị dù có thời gian không sống chung với nhau khá dài nhưng là do tính chất công việc của anh Đ và bản thân anh Đ cũng xác nhận do mắc nợ với mong muốn để giảm tải gánh nặng kinh tế gia đình cho vợ con nên anh sống xa vợ con thì đây được coi là lý do chính đáng của việc vợ chồng không sống chung chứ không phải là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng (theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình). Phía chị H1 xác nhận anh Đ vẫn sống có trách nhiệm với vợ con thể hiện ở việc anh Đ tự lo gánh vác trách nhiệm trả nợ để không ảnh hưởng đến cuộc sống của hai mẹ con chị; giữa hai vợ chồng vẫn có sự tôn trọng nhau và không có việc vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Anh Đ và chị H1 cũng thống nhất xác nhận giữa anh chị không xảy ra vấn đề bạo lực gia đình; việc này hàng xóm, tổ dân phố cũng biết.
Nay chị H1 vẫn tha thiết xin đoàn tụ để vợ chồng cùng chung gánh vác trách nhiệm kinh tế, cùng nhau trả nợ nuôi dạy con chung; hơn nữa việc anh chị ly hôn ít nhiều cũng ảnh hưởng đến con chung - cháu là con gái đang độ tuổi phát triển tâm sinh lý, sức khỏe lại kém cần được sự chăm sóc dạy dỗ của cả bố lẫn mẹ. Như vậy nguyện vọng của chị H1 là chính đáng cần được HĐXX xem xét. Anh Đ cho rằng vợ chồng
4
mâu thuẫn căng thẳng và yêu cầu được ly hôn nhưng HĐXX thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị tuy xảy ra đã lâu nhưng chỉ là những va chạm trong cuộc sống hàng ngày do tính cách chưa hòa hợp chưa thật sự hiểu nhau và thực tế trong xã hội vẫn còn tồn tại nhiều gia đình như vậy; điều đó chứng tỏ hôn nhân của anh chị chưa lâm vào tình trạng trầm trọng và anh chị vẫn còn có khả năng hàn gắn được. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị H1 là chính đáng và cần có thêm thời gian để anh chị cải thiện tình cảm quan hệ vợ chồng, tạo cơ hội lần nữa cho chị H1 cũng như tạo điều kiện cho anh chị khắc phục mâu thuẫn để anh chị đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc nuôi dạy con chung nên yêu cầu kháng cáo xin đoàn tụ của chị H1 là có căn cứ cần được chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ và đưa ra những nhận định theo hướng này là chưa phù hợp chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ và con chưa thành niên do đó cần sửa bản án sơ thẩm về tình cảm: Bác yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Tuấn Đ đối với chị Nguyễn Thị H1.
Ý kiến quan điểm của luật sư không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.
2.2 Về con chung và tài sản chung:
Do yêu cầu ly hôn của anh Đ không được chấp nhận nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết về con cái và tài sản chung.Bản án số 425/2024/HNGĐ - ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội không có hiệu lực pháp luật.
[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Tuấn Đ1 phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị H1 không phải chịu án phí HNGĐ phúc thẩm.
Từ những nhận định trên!
- Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 308, điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 27, 29 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quôc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị H1.
Sửa bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 425/2025/HNGĐ - ST, ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội và tuyên như sau:
- Bác yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Tuấn Đ đối với chị Nguyễn Thị H1.
- Về án phí: Anh Đ phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (đã nộp) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007093 ngày 11/4/2024 của Chi cục
5
Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì. Chị H1 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H1 300.000đồng tạm ứng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm (đã nộp) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007453 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. Hội đồng xét xử phúc thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thanh Tú |
6
Bản án số 22/2025/HNGĐ- PT. ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ- PT.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
