|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
ST
BẢN ÁN SỐ: 22/2025/HNGĐ-
Ngày: 25-3-2025
V/v: “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Kim Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuyễn
2. Ông Nguyễn Ngọc Thạch
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Ngô Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Trương C, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế C1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ô, khu phố R, thị trấn G, tỉnh Tây Ninh.
(Các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10-9-2024 và các biên bản làm việc, nguyên đơn chị Dương Thị Trương C trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh C1 chung sống với nhau vào năm 2023, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G vào cùng năm 2023, sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống bên gia đình chị.
Anh chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, do anh C1 mê cờ bạc, đem tài sản đi thế chấp chị phải trả nợ thay, nhiều lần chị cho cơ hội nhưng anh C1 không thay đổi và sau đó anh C1 về nhà cha mẹ ruột sống đến nay mà không bàn việc đoàn tụ với chị. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh C1.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Thế C1: Đã được triệu tập hợp lệ để thu thập chứng cứ nhưng vẫn không đến Tòa án để làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị C nên Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chị C đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh C1 không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C đối với anh C1. Về con chung: Không có nên không giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị C và anh C1 chung sống với nhau vào năm 2023, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G vào cùng năm 2023 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhân và bảo vệ. Nay chị C có yêu cầu ly hôn với anh C1 Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.
Xét yêu cầu ly hôn của chị C: Theo chị C trình bày, nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do anh C1 không chăm lo cho gia đình, mê cờ bạc đem tài sản đi thế chấp chị phải trả nợ thay, trong thời gian ly thân anh C1 không bàn việc đoàn tụ với chị. Đối với anh C1, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhằm hòa giải mâu thuẫn giữa anh chị nhưng anh C1 không đến và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị C. Cho thấy, giữa anh chị có xảy ra mâu thuẫn nên anh C1 không có thiện chí đoàn tụ, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C đối với anh C1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị C khai không có nên không giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị C được chấp nhận yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị Trương C đối với anh Nguyễn Thế C1. Chị Dương Thị Trương C được ly hôn với anh Nguyễn Thế C1.
- Về con chung: Không có nên không giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về án phí: Chị Dương Thị Trương C phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0014451 ngày 07-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Chị C đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kim Quyên |
Bản án số 22/2025/HNGĐ ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn
- Số bản án: 22/2025/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị Dương Thị Trương Chi và anh Nguyễn Thế Cường
