trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 22/2025/DS-ST

Ngày 30-9-2025

“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khải, ông Nguyễn Quang Châu.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Thương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 18/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Cao Den N1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Q: Ông Lê N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2025, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê N, đồng thời cũng là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Ngày 07/01/2025, tại nhà bà Nguyễn Thị H ở thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng, ông Lê N và ông Nguyễn Văn Q cùng ký hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị H để nhận chuyển nhượng thửa đất 883, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay là Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng), do bà Nguyễn Thị H đứng tên. Các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng thửa đất trên là 1.000.000.000 đồng. Cùng ngày, ông Lê N và ông Nguyễn Văn Q đã đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận trong thời hạn 60 ngày, từ ngày 07/01/2025 đến ngày 07/3/2025, ông N và ông Q tiếp tục đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng. Sau khi bên bà H nhận đủ số tiền cọc 600.000.000 đồng thì các bên sẽ làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, các bên thỏa thuận tài sản trên thuộc quyền sở hữu của bà H, không có thừa kế gia đình, không có tranh chấp với bất kỳ cơ quan tổ chức, cá nhân nào.

Ngày 07/3/2025, ông N và ông Q có đến nhà bà H với mục đích để đặt cọc lần 2 với số tiền 300.000.000 đồng, tuy nhiên trong thời gian này ông N và ông Q biết được thông tin bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ phải thi hành án số tiền 100.000.000 đồng cho ông Sầm Hoài N2 và bà Hà Thị D, thửa đất này của bà H cũng đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Đ, đồng thời Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Lâm Đồng) cũng có công văn đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực K không tiến hành các thủ tục giao dịch liên quan đến tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ phải thi hành án đối với thửa đất số 883, tờ bản đồ số 10 nêu trên. Ông N có nói với bà H về việc cùng ông N đi tới Ngân hàng đang thế chấp đất để trả tiền và rút Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về tuy nhiên bà H không đồng ý. Để tránh việc đặt cọc mà không nhận chuyển nhượng được, ông N và ông Q không đồng ý tiếp tục đặt cọc lần hai số tiền 300.000.000 đồng nữa. Ông N, ông Nguyễn Văn Q mới chỉ đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị H, chưa nhận bàn giao đất và tài sản trên đất.

Về cam kết của Hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025, nếu bên bà Nguyễn Thị H vi phạm nghĩa vụ thì sẽ phải chịu phạt cọc số tiền 600.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền phạt cọc 300.000.000 đồng. Các bên không ký kết thêm phụ lục hợp đồng nào về việc thỏa thuận lãi chậm trả.

Số tiền đặt cọc này là tài sản chung của vợ chồng ông Lê N và bà Cao Den N1 cùng ông Nguyễn Văn Q.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Lâm Đồng.
  • Ông Sầm Hoài N2 và bà Hà Thị D; Địa chỉ: Số F N, xã K, tỉnh Lâm Đồng.
  • Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 – Chi nhánh Đ. Địa chỉ: Số B N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Do không liên quan đến vụ án nên nguyên đơn ông Lê N đã có đơn thay đổi yêu cầu không đưa họ tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:

  • - Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 883, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông giữa ông Lê N và bà Nguyễn Thị H vô hiệu.
  • - Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông Lê N số tiền cọc là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm = 1,66%/tháng tính từ ngày 08/01/2025 cho đến khi xét xử.

Từ ngày 08/01/2025 đến nay ngày 30/9/2025 là 8 tháng 26 ngày, số tiền lãi bà H phải trả là: 300.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 8 tháng 26 ngày =44.220.000 đồng.

Tổng số tiền bà H phải trả cho ông N là: 344.220.000 đồng.

Không yêu cầu phạt cọc.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà Nguyễn Thị H thừa nhận vào ngày 07/01/2025, bà H với ông Lê N và ông Nguyễn Văn Q có ký Hợp đồng đặt cọc thỏa thuận mua bán thửa đất số 883, tờ bản đồ số 10, địa chỉ : Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay là Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng), do mình bà H đứng tên, đây là tài sản riêng của bà H, không liên quan đến chồng là anh Trương Văn T.

Các bên thỏa thuận ngày 07/01/2025, ông N và ông Q đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng và bà H phải đưa cho ông N số tiền hoa hồng là 20.000.000 đồng. Trong khi mua bán bà H có nói thửa đất này đang trong quy hoạch không thể tách thửa được vì trước đây bà H có bán cho ông Sầm Hoài N2 và bà Hà Thị D nhưng không thành, giờ bà H cần tiền trả nợ, đồng thời bìa đỏ bà H cũng đang thế chấp ở Ngân hàng vì vậy bà H cần tiền để trả nợ. Do đó, các bên thỏa thuận trong thời hạn 60 ngày từ ngày 07/01/2025 đến ngày 07/3/2025, ông N và ông Q sẽ đặt cọc thêm 300.000.000 đồng để bà H xử lý nợ và trả thêm cho ngân hàng.

Tuy nhiên, đến ngày 07/3/2025, ông N đến nhà bà H đòi lấy lại tiền đã đặt cọc 300.000.000 đồng vì cho rằng thửa đất này của bà bà H đang tranh chấp và không tiếp tục đặt cọc lần 2 số tiền 300.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị H đã nhận số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng, chưa bàn giao đất và tài sản trên đất. Về cam kết của Hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025, nếu bà H vi phạm nghĩa vụ thì sẽ phải chịu phạt cọc số tiền 600.000.000 đồng, trong đó tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền phạt cọc 300.000.000 đồng. Các bên không ký kết thêm phụ lục hợp đồng nào về việc thỏa thuận lãi chậm trả.

Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị H có ý kiến như sau:

Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 883, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông giữa ông Lê N và bà Nguyễn Thị H vô hiệu: Do ông Lê N đã vi phạm nghĩa vụ đặt cọc lần 2 nên đồng ý tuyên hợp đồng vô hiệu.

Đối với yêu cầu trả lại số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm = 1,66%/tháng tính từ ngày 08/01/2025 đến nay ngày 30/9/2025 là 8 tháng 26 ngày, số tiền lãi bà H phải trả là: 300.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 8 tháng 26 ngày =44.220.000 đồng. Tổng số tiền bà H phải trả cho ông N là: 344.220.000 đồng, bà H không đồng ý yêu cầu này.

Nguyên đơn không yêu cầu phạt cọc nên bà H không có ý kiến gì với việc phạt cọc.

Nguyên đơn có yêu cầu thay đổi những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không đưa họ tham gia tố tụng, bà H đồng ý và không có ý kiến gì, đối với những người sau:

  • Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Lâm Đồng.
  • Ông Sầm Hoài N2 và bà Hà Thị D; Địa chỉ: Số F N, xã K, tỉnh Lâm Đồng.
  • Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 – Chi nhánh Đ. Địa chỉ: Số B N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

* Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Den N1 trình bày: Ngày 07/01/2025, chồng bà là ông Lê N và ông Nguyễn Văn Q có cùng nhau ký hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng lô đất của bà H với giá 1.000.000.000 đồng, ngày 07/01/2025 đã đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng và hẹn đến ngày 07/3/2025 đặt cọc lần 2 là 300.000.000 đồng nữa thì sẽ ký hợp đồng công chứng chuyển nhượng thửa đất. Khi ký xong Hợp đồng công chứng sẽ thanh toán đủ. Tuy nhiên, sau khi đặt cọc vợ chồng bà Cao Den N1 mới biết thửa đất trên đã được bà H thế chấp Ngân hàng TMCP Q1 - Chi nhánh Đ nhưng lại dấu thông tin trên. Thêm nữa tài sản mà bà H bán cho vợ chồng bà N1 đã bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô có đơn đề nghị phong tỏa gửi qua Văn phòng đăng ký đất đai huyện K nên thửa đất trên không thể chuyển nhượng được. Số tiền đặt cọc là tài sản chung của bà N1 và ông Lê N cùng ông Q. Vì bà H đã vi phạm nghĩa vụ nên ông N phải làm đơn khởi kiện bà H để lấy lại tiền cọc. Bà H nhất trí với ý kiến của ông N là yêu cầu bà H trả tiền cho ông N. Bà H không yêu cầu độc lập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng như sau: Thẩm phán, thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025 là vô hiệu toàn bộ. Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, khi hợp đồng vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Ông N đã giao cho bà H 300.000.000 đồng, bà H phải hoàn trả số tiền này.

Về yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền 20%/năm đối với số tiền 300.000.000 đồng ông N đã đưa cho bà H: Do hợp đồng vô hiệu, các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận, bên đặt cọc (ông N) đã không tìm hiểu, kiểm tra thông tin pháp lý của thửa đất nhưng vẫn ký hợp đồng; bên nhận đặt cọc (bà H) biết quyền sử dụng thửa đất đang thế chấp cho ngân hàng, biết việc bị cơ quan thi hành án dân sự ngăn chặn chuyển nhượng, nhưng vẫn ký. Như vậy 2 bên đều có lỗi nên không chấp nhận yêu cầu bồi thường lãi của nguyên đơn.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ gồm: Hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025 (Bản gốc); 01 USB và văn bản trình bày nội dung ngày 07/3/2025 ông Lê N xuống nhà bà Nguyễn Thị H làm việc về việc đặt cọc (bản gốc); Bản chụp màn hình tin nhắn giữa ông Lê N và bà Nguyễn Thị H (bản photo); Văn bản cam kết về tài sản; Công văn về việc phối hợp thi hành án ngày 05/02/2025; Quyết định thi hành án chủ động ngày 17/01/2025; Quyết định thi hành án theo yêu cầu ngày 17/01/2025; Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp bất động sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Lê N khởi kiện bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên Hợp đồng đặt cọc vô hiệu, hoàn trả số tiền cọc đã nhận và trả tiền lãi. Do đó đây là tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay là thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng) theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết, nguyên đơn đã thay yêu cầu không đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, ông Sầm Hoài N2, bà Hà Thị D, Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Đ) vào tham gia tố tụng. Việc thay đổi yêu cầu này không ảnh hưởng giải quyết đến nội dung vụ án nên có cơ sở cần chấp nhận.

Đối với ông Trương Văn T (chồng của bà Nguyễn Thị H). Đây là tài sản riêng của bà Nguyễn Thị H, không liên quan đến chồng là ông Trương Văn T. Việc này đã được xác lập bằng Văn bản cam kết về tài sản lập ngày 24/02/2023, được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận. Do đó, bà H là người có toàn quyền giao dịch đối với quyền sử dụng đất nêu trên nên không đưa ông Trương Văn T vào tham gia tố tụng là phù hợp.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Xét về hình thức, nội dung hợp đồng đặt cọc thấy: Ngày 07/01/2025, nguyên đơn ông Lê N cùng ông Nguyễn Văn Q và bị đơn bà Nguyễn Thị H ký Hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng thửa đất số 883, tờ bản đồ số 10, địa chỉ Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) với giá 1.000.000.000 đồng. Hai bên

thỏa thuận đặt cọc lần thứ nhất 300.000.000 đồng và trong 60 ngày tiếp theo đặt cọc lần hai 300.000.000 đồng, sau đó tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Các bên thỏa thuận tài sản trên thuộc quyền sở hữu của bà H, không có thừa kế gia đình, không có tranh chấp với bất kỳ cơ quan tổ chức, cá nhân nào.

Tuy nhiên, tại thời điểm ký hợp đồng, bà H biết thửa đất đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh Đ, đồng thời bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô có văn bản ngăn chặn giao dịch để bảo đảm thi hành án, nhưng bà H vẫn ký kết hợp đồng và không thông tin rõ cho bên đặt cọc là ông N và ông Q. Mặt khác phía nguyên đơn cũng không kiểm tra đầy đủ tình trạng pháp lý của thửa đất trước khi giao kết.

Từ những nhận định trên, Hợp đồng đặt cọc các bên thực hiện ký kết vào ngày 07/01/2025 nhằm mục đích ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 883, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay là Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng) đã vi phạm điều cấm của pháp luật về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo điểm b khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai. Do đó, hợp đồng đặt cọc được xác định vi phạm điều cấm của pháp luật về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuộc trường hợp vô hiệu theo quy định tại các Điều 117, 122 và 131 của Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ Điều 131 của Bộ luật dân sự, khi hợp đồng vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Ông Lê N và ông Nguyễn Văn Q đã giao cho bà Nguyễn Thị H số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng, chưa nhận đất và tài sản gắn liền với đất, vì vậy bà H có nghĩa vụ trả lại số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng cho ông N và ông Q.

[3] Về việc phạt cọc: Quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn không yêu cầu phạt cọc đối với bị đơn. Tòa án đã giải thích về mặt hậu quả của tuyên bố hợp đồng giao dịch dân sự vô hiệu nhưng Nguyên đơn không yêu cầu, do đó không xem xét giải quyết.

[4] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các bên thừa nhận Nguyên đơn chưa nhận đất và bị đơn chưa giao đất cho Nguyên đơn, do đó không xem xét giải quyết.

[5] Xét yêu cầu của Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm = 1,66%/tháng tính từ ngày 08/01/2025 đến ngày 30/9/2025 là 8 tháng 26 ngày, số tiền lãi bà H phải trả là: 300.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 8 tháng 26 ngày = 44.220.000 đồng.

Xét thấy, tại Hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025, các bên không thỏa thuận việc tính lãi với số tiền chậm trả nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[6] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Đối với số tiền 20.000.000 đồng mà bà H cho rằng đã đưa cho ông N là tiền hoa hồng, quá trình giải quyết vụ án bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[8] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần. Căn cứ Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc ông Lê N phải chịu án phí phần không được chấp nhận 44.220.000 đồng x 5%= 2.211.000 đồng, được trừ vào số tiền 8.128.000 đồng mà ông Lê N đã nộp tạm ứng theo biên lai số 0008292 ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Lâm Đồng). Hoàn trả cho ông Lê N số tiền 5.917.000 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu tuyên vô hiệu, do được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng và án phí có giá ngạch 300.000.000 đồng x 5% = 15.000.000 đồng, nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Lâm Đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 117, 122, 131 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024. Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê N:

  1. Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2025 giữa ông Lê N, ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị H về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 883, tờ bản đồ số 10, địa chỉ Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay là Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng) vô hiệu.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông Lê N số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
  3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông Lê N tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm = 1,66%/tháng tính từ ngày 08/01/2025 cho đến khi xét xử ngày 30/9/2025 là 8 tháng 26 ngày, số tiền lãi bà H phải trả là: 300.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 8 tháng 26 ngày = 44.220.000 đồng.
  5. Về án phí: Buộc ông Lê N phải chịu án phí phần không được chấp nhận là: 44.220.000 đồng x 5%= 2.211.000 đồng, được trừ vào số tiền 8.128.000 đồng mà ông Lê N đã nộp tạm ứng theo biên lai số 0008292 ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Lâm Đồng). Hoàn trả cho ông Lê N số tiền 5.917.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí là 15.300.000 đồng, nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Lâm Đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND khu vực 9 – Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 9 – Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 22/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê N yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả lại tiền đặt cọc, tiền lãi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger