Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/DS - ST

Ngày: 25/3/2025

V/v: T/c hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chung và ông Nguyễn Thế Sách.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 112/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST- DS, ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23A/2025/QĐST-DS ngày 25/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1989 – Có mặt

Địa chỉ: Thôn Q, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn:

  1. Bà Uông Thị H, sinh năm 1983 – Có mặt;
  2. Địa chỉ: Khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

  3. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1982 – Vắng mặt;
  4. Địa chỉ: Tòa nhà S, Căn hộ B, Khu đô thị V, Đ, G, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên toà, nguyên đơn trình bày như sau:

Do quen biết, nên ngày 02/8/2023 (Dương lịch) tôi có cho chị Phạm Thị L và chị Uông Thị H vay tổng số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) để giải quyết công việc riêng và các chị có hẹn tôi đến ngày 2/9/2023 sẽ thanh toán tổng số tiền gốc đã vay và tiền lãi, nhưng đến hẹn thanh toán mà chị L và chị H không trả tiền, tôi đến đòi thì hai chị đùn đẩy trách nhiệm cho nhau nên giữa chúng tôi không thể giải quyết bằng tình cảm được. Theo đơn khởi kiện gửi Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tôi viết đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Phạm Thị L và chị Uông Thị H phải có trách nhiệm trả tôi số tiền gốc đã vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng chẵn) và tiền lãi tính theo lãi suất quá hạn của ngân hàng N là 1,5%/tháng, tính từ ngày vay là 2/8/2023 đến 02/11/2024 là 15 tháng, thành tiền là 112.500.000 đồng (Một trăm mười hai triệu năm trăm nghìn đồng chẵn). Tổng số tiền gốc và lãi tôi yêu cầu chị L và chị H phải thanh toán trả tôi là 612.500.000 đồng (Sáu trăm muồi hai triệu năm trăm nghìn đồng chẵn. Tôi xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chị H và chị L phải có trách nhiệm trả cho tôi số tiền gốc đã vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng chẵn) và tiền lãi tính theo quy định pháp luật là 10%/năm tính từ ngày 02/09/2023 đến ngày xét xử là 19 tháng, tương ứng với số tiền là 79.166.000 đồng. Do trước đó, các chị đã trả tôi 26.000.000 đồng tiền lãi nên đề nghị đối trừ số tiền lãi vào số tiền lãi tôi đã yêu cầu. Do vậy, tôi yêu cầu chị hợi và chị L phải trả tôi số tiền lãi còn lại là 53.166.000 đồng. Tổng số tiền tôi yêu cầu chị H và chị L phải trả cho tôi là 553.166.000 đồng.

Về án phí, do chị H và chị L có lỗi nên chị H và chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là Uông Thị H trình bày:

Tôi và chị Phạm Thị L, sinh năm 1982 có số căn cước công dân là [...], có địa chỉ: Tòa nhà S, căn hộ B, khu đô thị V, Đ, G, Hà Nội có mối quan hệ quen biết do chị L là bạn của cậu bên nhà chồng tôi. Còn với K thì do trước đây K có đầu tư đất, còn tôi làm Văn phòng bất động sản nên chị em quen biết nhau. Do chị L có nợ tiền của chị Nguyễn Thị T, khi chị T đòi tiền thì L không có tiền trả nên có nhờ tôi vay tiền nhưng tôi bảo không có vì lúc đó L cũng nợ tôi số tiền hơn một tỷ. Sau đó, T có gọi điện cho K hỏi vay tiền hộ L, thì K có bảo phải có sự bảo đảm của tôi thì mới cho vay. Tôi cũng đồng ý nên K đến tại số nhà A, khu B, Phố M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là văn phòng chúng tôi thuê làm bất động sản. Lúc đó, ở văn phòng đã có mặt tôi, chị L và chị T. Khi K đến, chị L là người viết giấy và ký tên, tôi cũng đọc và ký tên vào giấy vay tiền. Lúc đó, do tôi tình tuyện, không bị ai đe doạ hay ép buộc. Tôi chỉ nghĩ ký để giúp đỡ chị L vay tiền chứ tôi không nghĩ gì khác. Sau đó, K có chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng vào tài khoản của tôi. Ngay sau đó, tôi chuyển khoản luôn số tiền 500.000.000 đồng cho chị L. Khi vay, có cam kết vay trong thời hạn 01 tháng, hẹn đến ngày 02/9/2023 sẽ trả. Về thoả thuận vay lãi thì tôi cũng không biết có thoả thuận không, tôi chỉ biết trong giấy vay tiền không ghi có thoả thuận về lãi suất. Đến ngày 02/9/2023, đến hạn phải trả thì L không trả tiền. Tôi và K đã nhiều lần đòi tiền L, L có xin đến tết năm 2024 trả tiền nhưng cũng không trả.

Việc tôi có ký vào giấy vay tiền, nội dung là tôi và chị L vay tiền của K vì tôi nghĩ tôi chỉ là người bảo lãnh cho khoan vay của K do K bảo phải có chị H đứng ra vay thì K mới cho vay. Tuy nhiên, tôi không có chứng cứ gì để xác định tôi là người bảo lãnh. Tôi cũng không biết nếu tôi không đứng ra ký thì K có cho vay không, vì đây là tiền của K.

Đối với việc K khởi kiện, tôi không vay, không có nhu cầu, tôi không sử dụng số tiền này, toàn bộ số tiền này là L sử dụng nên tôi đề nghị Toà án buộc L phải trả số tiền mà K đã cho vay và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Toà án đã tiến hành xác minh tại địa chỉ nơi ở của chị L, xác định chị L có đăng ký HKTT tại Toà nhà S206, Căn hộ B, Khu đô thị V, Đ, G, thành phố Hà Nội nhưng hiện nay, chị L không ở tại địa chỉ nêu trên. Toà án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chị L không đến Toà án làm việc cũng như có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Toà án.

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị Uông Thị H xác nhận có đọc, có ký vào giấy vay tiền và nhận số tiền anh K đã chuyển vào tài khoản của chị nhưng chị đã chuyển lại cho chị L. Do vậy, chị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K.

Đại diện VKSND thị xã Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:

Về tố tụng:

Thẩm phán chủ toạ đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ ,khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.

Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị H đã chấp hành đúng quy định Điều 70 và 72 BLTTDS nhưng chị L không chấp hành đúng quy định tại Điều 70 và 72 BLTTDS.

Về nội dung:

Áp dụng Điều 117, Điều 119, Điều 288, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 26, 35, 39, 40, 147, 227, 228, 235, 238 và 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị L và bà Uông Thị H phải liên đới trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi là 53.166.000 đồng, tổng tiền gốc và lãi là 553.166.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Do nguyên đơn và bị đơn đều xác lập quan hệ pháp luật dựa trên giấy vay nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là bà Uông Thị H có địa chỉ tại khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và bà Phạm Thị L có địa chỉ tại xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Các bên cũng thừa nhận, nơi thực hiện hợp đồng tại địa chỉ Văn phòng của bà H ở khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ giải quyết nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g,h khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về sự vắng mặt của đương sự: Toà án đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo phiên toà lần 1, Quyết định hoãn phiên toà và giấy báo phiên toà lần 2 những vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTDS.
  4. Về thời hiệu giải quyết: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo giấy vay nợ, bà L và bà H có ký giấy hẹn ngày 02/9/2023 sẽ trả nên việc khởi kiện của ông K vẫn trong thời hạn theo quy định tại Điều 429 BLDS.
  5. Về nội dung vụ án:

Theo giấy vay tiền ghi ngày 02/8/2023, bà Phạm Thị L và bà Uông Thị H có vay số tiền 500.000.000 đồng của ông Nguyễn Đức K hẹn đến ngày 02/9/2023 sẽ trả. Trên giấy vay tiền có chữ ký của cả bà L và bà H. Như vậy, giấy vay tiền được thể hiện bằng hình thức văn bản, các bên đều tự nguyện ký xác nhận, không bị đe doạ và ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật nên không bị vô hiệu do vi phạm quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Bà H xác nhận việc ông K có cho bà L vay tiền, ông K có chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng vào tài khoản của bà và sau bà đã chuyển toàn bộ số tiền này cho bà L. Bà H cũng xác nhận việc bà có ký vào giấy vay tiền và không bị ai đe doạ, ép buộc. Như vậy, việc ông K có cho bà H và bà L vay tiền là có thật. Bà H cho rằng bà chỉ ký bảo lãnh nhưng trên giấy vay tiền không có nội dung bảo lãnh. Việc bà H cho rằng, toàn bộ số tiền ông K chuyển khoản cho bà, bà đã chuyển sang cho bà L nên bà không có trách nhiệm trả cho ông K là không có căn cứ. Tại giấy vay tiền, các bà đều cùng ghi bà L và bà H vay tiền của ông K và ký xác nhận, không chứng cứ nào thể hiện việc vay tiền là của riêng bà L, không liên quan đến bà H. Đối với bản photo bà gửi cho Toà án về việc bà L nhận nợ với ông K. Tuy nhiên, ông K không xác nhận nội dung này, bà không cung cấp được bản chính, hơn nữa theo nội dung của giấy cam kết ghi ngày 29/02/2024 chỉ ghi bà L có nợ ông K số tiền 590.000.000 đồng, ngoài ra không có nội dung khác nên không có căn cứ xác định khoản nợ ngày 02/8/2023 là của riêng bà L. Do vậy, có đủ căn cứ xác định bà L và bà H có vay của ông K số tiền 500.000.000 đồng. Như vậy, việc ông K khởi kiện là có căn cứ.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi của ông K: Theo giấy vay tiền, các bên không thoả thuận tiền lãi nhưng có hẹn đến ngày 02/9/2023 trả tiền. Như vậy, đến thời hạn phải trả nhưng bị đơn không trả nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả là có căn cứ. Do vậy, ông K yêu cầu bà H và bà L phải trả tiền lãi là đúng. Do các bên không thoả thuận tiền lãi, ông K yêu cầu trả lãi theo mức lãi suất là 10%/năm là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên toà ông K xác nhận các bà đã trả ông số tiền lãi là 26.000.000 đồng và đề nghị đối trừ vào số tiền lãi ông yêu cầu tương ứng với thời gian chậm trả nên cần đối trừ số tiền lãi đã trả vào khoản tiền lãi nguyên đơn đã yêu cầu.

Theo giấy vay nợ, chỉ ghi bà L và bà H vay ông K số tiền 500.000.000 đồng nhưng không ghi rõ số tiền vay cụ thể của từng người nên cần buộc bà H và bà L liên đới trách nhiệm trả cho ông K số tiền gốc và lãi của khoản tiền gốc đã vay.

Tính từ ngày 02/9/2023 đến ngày xét xử 25/3/2025, tương ứng với số ngày là 570 ngày, tương ứng với 19 tháng, và trừ đi số tiền lãi đã trả là 26.000.000 đồng như vậy, tương ứng với số tiền lãi là:

(500.000.000 đồng x 10%/năm : 12 tháng x 19 tháng) – 26.000.000 đồng = 53.166.000 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi bà L và bà H liên đới phải trả ông K là 553.166.000 đồng.

Đề nghị của đại diện VKS là có căn cứ, cần chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí, bị đơn phải chịu án phí DSST.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g,h Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  2. Áp dụng Điều 117, Điều 119, Điều 288, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
  3. Tuyên xử:
    • - Chấp nhận yêu cầu trong đơn khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Đức K. Buộc bị đơn là bà Uông Thị H và bà Phạm Thị L phải liên đới trả cho ông Nguyễn Đức K số tiền gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi là 53.166.000 đồng, tổng tiền gốc và lãi là 553.166.000 đồng (Năm trăm năm mươi ba triệu một trăm sáu mưới sáu nghìn đồng chẵn).
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Về án phí: Bà Uông Thị H và bà Phạm Thị L phải chịu 26.126.000 đồng án phí DSST. Trả lại cho ông Nguyễn Đức K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 đồng theo biên lai số 0003122 ngày 03/12/2024 của Chi cục THA dân sự thị xã Q.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS thị xã Quế Võ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hoài Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế S

Nguyễn Thị Chung

Phạm Thị Hoài P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/DS - ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 22/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger