|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/DS-ST Ngày: 27-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Út
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hổ
- Bà Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 405/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1951;
Nơi cư trú: Số E, ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Minh T1, sinh năm: 1995 và ông Phạm Văn H, sinh năm: 1975 là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 29/10/2024 và ngày 17/12/2024);
Nơi cư trú: Số A, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
-
Bị đơn: Bà Trần Thúy D, sinh năm: 1975 và ông Lê Phương B, sinh năm: 1974;
Nơi cư trú: Số A, ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Ông Lê Minh T1 và bà Trần Thúy D có mặt, ông Lê Phương B có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Phạm Văn H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, lời trình bày tại biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị T là ông Lê Minh T1 trình bày:
Bà Phạm Thị T là chủ hụi, bà Trần Thúy D là hụi viên có tham gia chơi hụi do bà T làm chủ hụi, cụ thể như sau:
- Ngày 19/7/2017 âm lịch, bà D tham gia chơi hụi 1.000.000 đồng, 02 dây mỗi dây tham gia 01 phần, mỗi dây có tổng cộng 15 phần, bà D hốt đầu tiên. Bà D đóng hụi chết được 3 tháng, còn lại 11 tháng hụi chết mỗi tháng 2.000.000 đồng, tổng cộng 22.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 16/10/2017 âm lịch, bà D chơi hụi 500.000 đồng, tham gia 01 phần và đã hốt đầu, Bà D đóng hụi chết được 10 tháng, còn lại 4 tháng hụi chết mỗi tháng 500.000 đồng, tổng cộng 2.000.000 đồng.
- Dây hụi mở ngày 15/12/2017 âm lịch, bà D chơi hụi 500.000 đồng, tham gia 01 phần và đã hốt đầu, Bà D đóng hụi chết được 8 tháng, còn lại 6 tháng hụi chết mỗi tháng 500.000 đồng, tổng cộng 3.000.000 đồng.
- Ngoài ra, trước đây bà D còn nợ bà T số tiền nợ hụi là 70.000.000 đồng.
Tổng cộng: 97.000.000 đồng, tuy nhiên bà D chỉ thừa nhận còn nợ bà T số tiền 45.000.000 đồng nên bà T chỉ yêu cầu bà D và ông B liên đới trả số tiền 45.000.000 đồng, rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 52.000.000 đồng. Ông Lê Phương B là chồng của bà D, sinh sống chung với bà D, và việc chơi hụi nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong gia đình, do đó ông B phải có nghĩa vụ cùng bà D trả nợ hụi cho bà T. Vì vậy, nay bà T khởi kiện yêu cầu bà D và ông B có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ hụi là 45.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.
Theo bản tự khai và các tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, lời trình bày tại biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thúy D trình bày:
Bà Trần Thúy D thống nhất với lời trình bày của bà Phạm Thị T về phần nợ tiền hụi của các dây hụi với tổng số tiền 27.000.000 đồng. Đối với số tiền 70.000.000 đồng tiền nợ hụi như phía bà T trình bày là không đúng, bà D có nhiều lần trả tiền nợ hụi cũ cho bà T mỗi ngày từ 200.000 đồng đến 250.000 đồng, hiện nay bà D còn nợ tiền hụi cũ của bà T khoảng 18.000.000 đồng. Tổng cộng tiền nợ hụi là 45.000.000 đồng và bà D đồng ý trả số tiền này cho bà T, tuy nhiên bà D yêu cầu được trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho bà T. Bà D sử dụng số tiền hốt hụi và vay tiền để lo cho gia đình nên đồng ý việc ông B liên đới cùng bà D trả nợ.
Theo đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phương B1 trình bày:
Ông Lê Phương B thống nhất với lời trình bày của vợ ông là bà Trần Thúy D và yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông tại Tòa án các cấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thúy D và ông Lê Phương B trả số tiền nợ hụi nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 52.000.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện này theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Lê Phương B là bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông B theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo lời trình bày của bà D và nội dung đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt của ông B thể hiện bà D và ông B có mối quan hệ là vợ chồng. Xét thấy, bà D và ông B là hôn nhân hợp pháp, bà D sử dụng số tiền hốt hụi để lo cho nhu cầu thiết yếu của gia đình. Bà T khởi kiện yêu cầu bà D và ông B liên đới trả số tiền nợ hụi là 45.000.000 đồng, bà D và ông B đồng ý liên đới trả số tiền 45.000.000 đồng cho bà T nên ghi nhận để buộc bà D và ông B thực hiện. Tuy nhiên, việc bà D và ông B yêu cầu được trả nợ hụi hàng tháng mỗi tháng 1.000.000 đồng nhưng không được bà T chấp nhận và các bên không có thỏa thuận nào về việc trả nợ theo yêu cầu của bà D và ông B nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận bà T không yêu cầu tính lãi suất.
- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T được chấp nhận nên bà Trần Thúy D và ông Lê Phương B phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 45.000.000 đồng x 5% = 2.250.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 217, 218, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với bà Trần Thúy D, ông Lê Phương B về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, cụ thể:
Buộc bà Trần Thúy D và ông Lê Phương B có trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị T số tiền 45.000.000 (Bốn mươi lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu bà Trần Thúy D, ông Lê Phương B trả số tiền nợ hụi 52.000.000 (Năm mươi hai triệu) đồng. Đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà Trần Thúy D, ông Lê Phương B phải liên đới nộp là 2.250.000 (Hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị T và bà Trần Thúy D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với ông Lê Phương B vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Út |
Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 22/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
