Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/DS-ST

Ngày: 13-3-2025.

V/v: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Trọng Thắng;
  2. Bà Hồ Thị Lệ Thu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Tp . HCM tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 723/2024/DSST ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 12/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).

Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000.

Là đại diện theo ủy quyền

(Văn bản ủy quyền số 06/2024/GUQ-MAFC ngày 02/4/2024 của Công ty T và văn bản ủy quyền ngày 05/4/2024 của Công ty L)

Bị đơn: Ông Nguyễn Lưu Quốc H, sinh năm 1994.

Địa chỉ: G T, Phường T, Quận G, TP . Hồ Chí Minh.

Bà D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 07/03/2023, Công ty T (Việt Nam) - sau đây gọi tắt là Công ty T có ký Hợp đồng tín dụng số 4369274 sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Lưu Quốc H với khoản vay trị giá 37.695.000 đồng, lãi suất 4.83%/tháng, thanh toán hàng tháng với số tiền 2.683.101 đồng trong kỳ hạn 25 tháng kể từ ngày 25/03/2023 đến ngày 25/03/2025.

Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn Lưu Quốc H.

Sau khi được giải ngân ông Nguyễn Lưu Quốc H đã thanh toán 3.713.382 đồng, trong đó: G đã trả: 1.664.820 đồng; lãi đã trả: 2.036.562 đồng; phí thu hộ đã trả: 12.000 đồng. Tuy nhiên, đến hạn thanh toán tiếp theo, ông Nguyễn Lưu Quốc H đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.

Công ty T đã nhiều lần đề nghị ông Nguyễn Lưu Quốc H thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Nguyễn Lưu Quốc H vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T.

Nay Công ty T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc ông Nguyễn Lưu Quốc H thanh toán cho Công ty T tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 13/3/2025 là 58.680.831 đồng, trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 36.030.180 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 22.650.651 đồng.

Ngoài ra Công ty T còn yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Lưu Quốc H phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 14/3/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngày 10/02/2025, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng là bà Lâm Thị Thùy D có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn là ông Nguyễn Lưu Quốc H đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ, tiến hành các thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo hòa giải; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 12/02/2025 nhưng ông Nguyễn Lưu Quốc H vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.

Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tụ bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ Luật tố tụng dân sự.

2. Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn, xét có đủ căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.

Án phí bị đơn nộp theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn là Công ty T về việc buộc bị đơn là ông Nguyễn Lưu Quốc H phải trả số tiền còn nợ lại theo Hợp đồng tín dụng ngày 07/3/2023 thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng của Công ty T ký ngày 07/3/2023 thể hiện ông Nguyễn Lưu Quốc H tại thời điểm ký kết hợp đồng với Công ty T có địa chỉ tại G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào kết quả xác minh Công an phường T, Quận G Thành phố Hồ Chí Minh: “Nguyễn Lưu Quốc H sinh năm 1994 có hộ khẩu thường trú tại G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà đã bán từ ngày 10/02/2025 đến nay đi đâu không rõ”.

Như vậy, đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Nguyễn Lưu Quốc H. Nay ông H vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 5, Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 5/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp lại đơn khởi kiện và theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng năm 2015.

2. Về hình thức:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lâm Thị Thùy D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Nguyễn Lưu Quốc H mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng của Công ty T ký ngày 07/3/2023 giữa Công ty T và bị đơn ông Nguyễn Lưu Quốc H cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở để kết luận Công ty T có cho ông Nguyễn Lưu Quốc H vay số tiền 37.695.000 đồng, lãi suất 4.83%/tháng, thanh toán hàng tháng với số tiền 2.683.101 đồng trong kỳ hạn 25 tháng kể từ ngày 25/03/2023 đến ngày 25/03/2025 . Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định ông Nguyễn Lưu Quốc H còn nợ lại Công ty T tính đến ngày 13/3/2025 là 58.680.831 đồng, trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 36.030.180 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 22.650.651 đồng.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Nguyễn Lưu Quốc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết, không cung cấp chứng cứ, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trình bày của nguyên đơn được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng về việc buộc bị đơn là ông Nguyễn Lưu Quốc H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/3/2025 là 58.680.831 đồng.

Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ ngày 14/3/2025, ông Nguyễn Lưu Quốc H còn phải thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng ký ngày 07/3/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ.

- Về thời hạn trả nợ:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán theo quy định của Luật phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 Bộ Luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N được sửa đổi bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005;
  • - Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
  • - Căn cứ điểm b Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

Về hình thức: Xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lâm Thị Thùy D và bị đơn là ông Nguyễn Lưu Quốc H.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam).

- Buộc ông Nguyễn Lưu Quốc H phải trả cho Công ty T (Việt Nam) tổng số tiền tính đến ngày 13/3/2025 là 58.680.831 đồng, trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 36.030.180 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 22.650.651 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 14/3/2025, ông Nguyễn Lưu Quốc H còn phải thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 4369274 ngày 07/03/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Lưu Quốc H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.934.042 đồng.

Công ty T (Việt Nam) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.310.657 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/23P số 0036612 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty T (Việt Nam).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Ngọc P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 22/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger