|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2025/DS-ST Ngày: 10/4/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khải
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Viết Ngoan
- Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2025/DS-ST ngày 06/01/2025, về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kiên Long
Đại chỉ: 40-42-44 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Võ Minh T, Chức vụ: Giám đốc Quan hệ khách hàng – Phòng G. (Có mặt)
Địa chỉ: Số D, Tổ B, Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị M1
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, Thành phố Cần Thơ.
Ông Nguyễn Hoàng N
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, Thành phố Cần Thơ.
(Bà M1, ông N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Hoàng N có ký kết với ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (gọi tắt là ngân hàng) hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1183439-60/HDDTD-cc ngày 15/01/2021, số tiền vay 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), lãi suất vay: 16%/năm, lãi quá hạn hạn: 150% lãi suất trong hạn tính từ thời điểm chuyển nợ, thời hạn vay 270 ngày kể từ ngày ký nhận nợ: mục đích vay: mua bán nhỏ lẻ.
Trong quá trình vay vốn bà M1, ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó ngân hàng yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 07/02/2025 là 72.596.507 đồng (trong đó nợ gốc 36.500.340 đồng, nợ lãi trong hạn 4.320.000, lãi quá hạn 31.776.167 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng các bên đã thỏa thuận.
Bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Hoàng N thống nhất trình bày:
Bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Hoàng N có vay của ngân hàng với số tiền nêu trên và tính đến ngày 07/02/2025, ông bà còn nợ ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi 72.596.507 đồng như ngân hàng đã trình bày. Vợ chồng bà đồng ý trả số tiền này nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin giảm lãi và trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Do bà M1 bị bệnh và ông N phải chăm sóc cho bà M1 vợ chồng đều có đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 25/3/2025 là 73.700.517 đồng, trong đó nợ gốc 36.500.340 đồng, lãi trong hạn 4.320.000 đồng, lãi quá hạn 32.880.177 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả xong nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Xét thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (gọi tắt là ngân hàng) và bà Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Hoàng N có thỏa thuận ký kết hợp đồng tín dụng vay tiền để mua bán, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ vay và lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, việc tranh chấp trên thuộc quan hệ pháp luật hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án không thu thập chứng cứ nên căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không có Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa sơ thẩm.
Bị đơn có địa chỉ tại khu vực Thới Bình 2, phường Thốt Nốt, quận T, thành phố Cần Thơ nên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn có đơn yêu cầu không tham gia phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ, không tham gia hòa giải và đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt. Nguyên đơn cũng không yêu cầu tham gia hòa giải, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải mà tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 207 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[2] Xét yêu cầu của Ngân hàng buộc bị đơn trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/3/2025 là 73.700.517 đồng đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng tín dụng A1183439-60/HĐTD-CC ngày 15/01/2021, số tiền vay 45.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận và lần cuối cùng trả nợ là ngày 07/3/2021. Sau đó ngân hàng cũng đã có lập các văn bản làm việc đối với bị đơn vào các ngày 15/9/2022, 12/4/2023 và 08/12/2024, theo đó bị đơn có cam kết trả nợ hàng tháng nhưng không thực hiện.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ,......” nên Ngân hàng có quyền yêu cầu buộc bị đơn trả nợ.
Tính đến ngày 25/3/2025 tổng số nợ bị đơn chưa thanh toán cho ngân hàng là 73.700.517 đồng, trong đó nợ gốc 36.500.340 đồng, lãi trong hạn 4.320.000 đồng, lãi quá hạn 32.880.177 đồng và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng đã thừa nhận số nợ lãi và gốc nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Yêu cầu đòi nợ lãi và gốc của nguyên đơn là có cơ sở.
Đối với yêu cầu được giảm lãi và trả mỗi tháng 1.000.000 đồng của bị đơn thì tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn cũng không đồng ý giảm lãi và cách trả nợ theo đề nghị của bị đơn nên cũng không có cơ sở để xem xét. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 207, điểm b, khoản 2, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 có hiệu lực ngày 01/01/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1
- Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Hoàng N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 tổng số tiền nợ vốn và lãi tính đến ngày 25/3/2025 là 73.700.517 đồng, trong đó nợ gốc 36.500.340 đồng, lãi trong hạn 4.320.000 đồng, lãi quá hạn 32.880.177 đồng. Bị đơn còn phải chịu lãi quá hạn phát sinh từ ngày 26/3/2025 theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả xong nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Hoàng N phải chịu 3.685.026 đồng. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.504.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005876 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Văn Khải |
Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 22/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
